Tiểu-s                                                       

 Hoa Sơn   Phạm đình Bách       

                                                                                                                                      

Phạm đình Bách, bút hiệu Hoa-sơn, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1910 tại làng An-tây, huyện Quế-sơn, tỉnh Quảng-nam. Ông là con út trong một gia-đình khoa-bảng mà  thân-phụ là một nho-sĩ đã tham-gia tích-cực vào phong-trào Cần-vương, phụ-trách viêc khai-khẩn nhan-điền, tích-lũy lúa gạo tiền bạc chuẩn-bị cho cuộc chiến-đấu lâu dài cho Nghĩa-hội. 
Năm 1926 ông vào học đệ nhất niên trường Quốc-Học Huế. Đến tháng tư năm 1927, ông tham-gia tổ-chức cuộc bãi-khóa chống thực-dân Pháp, bị đuổi học và bị ghi tên vào sổ tình-nghi, phải trở về Quế-sơn làm ruộng. 

Thật khó để xác-định vào năm nào Hoa-Sơn  đã khởi nghiệp thi văn. Có một điều chắc-chắn là thi thơ đã  đi cùng với Hoa-Sơn khắp mọi nơi đến tận những  lao-tù trong chốn  thâm-sơn cùng cốc của mìền sơn-cước Quảng-nam, trong suốt cuộc đời đầy gian-truân vì những hoạt-động cách-mệnh, chống thực-dân rồi chống cộng-sản của ông. 

Năm 1930 ông trở lại Huế, vào làm việc trong một hảng buôn của người Trung hoa.  Năm 1931 ông  ra Hà nội để tiếp-tục việc học.

Theo  nhà biên-khảo Nguyễn tấn Long  trong "Việt-nam thi-nhân tiền-chiến" quyển hạ, thì Hoa-Sơn đã xuất-hiện trên văn-đàn từ thời niên-thiếu, từng cộng-tác với các báo Đấu-tranh của nhóm Trần văn Thạch, Nguyễn văn Tạo, Tạ thu Thâu và báo Sng của thi-sĩ Đông Hồ. Những bài thơ bắt kịp trào-lưu thơ mới, sáng-tác trong tuổi thanh-xuân đậm chất lãng-mạn đã xuất-hiện trong thi-tập đầu tay mang tên "Chưa đọng". 

Năm 1934 ông thi đổ tú-tài Pháp, phần thứ nhất. Được nhận vào học trường Albert Sarraut, nhưng lại bị đuổi học vì có tên trong sổ tình-nghi tổ-chức cuộc bãi-khoá chống Pháp. Sau khi bị đuổi, ông phải rời Hà nội vào miền Nam tìm việc làm và tiếp tục việc học.

Năm 1936 ông  ra lại Hà nội dự thi và đổ tú-tài Pháp, phần thứ hai. Cũng trong năm này, thi tác  "Từ đấy" của ông đã được chấm giải nhất đồng hạng với "Lời cuối cùng" của Thanh-Tịnh  trong cuộc thi văn thơ toàn quốc của Hà Nội báo.

Năm 1938 ông làm thừa-phái cho chính-phủ Nam-triều, tòng-sự tại Quảng-nam, dưới quyền của tổng-đốc Ngô đình Khôi.

Năm 1939 ông lập gia-đình với bà Trần-thị Túy-Ngọc, con út trong gia-đình tộc Trần tại Hội-an.

Năm 1945, sau các biến-cố chính-trị, tổng-đốc Ngô-đình-Khôi bị sát hại, ông đem gia-đình về tạm sống tại Hội-an và bắt đầu nghề dạy học tại trường Phan-chu-Trinh Hội-an (trường này về sau đổi tên thành trường Trần-quí-Cáp Hội-an).

Năm 1946, theo chính-sách tiêu-thổ kháng-chiến của Việt-minh, trường Phan-chu-Trinh dời về Cẫm khê, ông đưa gia-đình tản-cư về Cẫm khê và tiếp-tục dạy học tại trường này cho đến khi Việt minh phát-động phong-trào đấu-tố.

Năm 1950 ông bị đem ra đấu-tố và bị bắt giam tại các nhà giam Tiên hội, Tiên-lãnh, Tiên-châu vùng núi rừng Tiên-phước. Nhà giam nầy là nơi ông đã sáng-tác nhiều bài thơ được xuất-bản trong tập mang tên “Vần-thơ Tiên hội” sau khi ông vượt thoát ra được vùng tự-do. 

Năm 1954, theo Hiệp-định Genève, Việt minh phải th tù-nhân chính-trị, ông ra khỏi nhà giam, ghé về nhà tại làng An tây, huyện Quế sơn, tỉnh Quảng nam chỉ trong vòng nửa giờ để thăm vợ con rồi dẫn theo hai người con trai lớn bảy tám tuổi, ông vượt thoát ra Vĩnh-điện về vùng tự-do.

Từ 1954 đến năm 1963, ông có một cuộc sống ít sóng gió hơn: dạy Việt văn và Pháp văn tại các trường tại Huế : trường Nguyễn tri Phương, trường Bình Linh, Thiên Hựu, Bán công, Hàm Nghi. Thời gian này ông đã xuất-bản được năm tập thơ:

Chưa đọng, Vần thơ Tiên hội, Màu thời gian, Chuyện đất thiêng, Vần thơ cổ-kính.

 Từ khoảng năm 1958 trở về sau, ông đã dành khá nhiều thời-gian vào việc sưu-tập tài-liệu về các phong-trào Cần-vương, Nghĩa-hội, Đông-du và Duy-tân để viết cuốn “chiến-sĩ sông Thu”. Trong giai-đoạn này, ông đứng ngoài các hoạt-động chính-trị.

Năm 1965, trước sự đe-dọa của các phong-trào thiên cộng, ông tham gia hoạt-động trở lại với một mục-đích cố-gắng thực-hiện sự thống-nhất các hệ-phái của Việt nam Quốc dân đảng. Ông hy-vọng sự đoàn-kết thống-nhất của một chính-đảng đã có nhiều kinh-nghiệm máu xương với cộng sản sẽ góp phần với các lực-lượng quốc-gia khác để cứu miền nam khỏi rơi vào tay cộng sản. Cố-gắng thống-nhất Việt nam Quốc dân đảng không thành công.

Năm 1966, khi đi từ Quảng-điền, một căn-cứ địa được hình thành để chống lại  chủ-trương ly-khai của trung-tướng Nguyễn chánh Thi, về lại Huế, ông bị ám-sát nhưng rất may ông chỉ bị thương và được tiếp cứu kịp thời. Từ nhà thương Huế, ông đã được một linh-mục dòng Chúa Cứu Thế giúp đở phương-tiện để ngay trong đêm di chuyển ra lại Quảng-điền và vào Đà nẳng.

Năm 1968, trong biến-cố Mậu-thân, ông và gia đình vào tạm cư tại trường Kiễu-mẫu. Tại đây ông bị đạn. Gia đình tìm cách đưa được ông vào Đà nẳng nhưng quá trể. Ông mất tại Đà nẳng ngày 19 tháng giêng âm-lịch năm Mậu-thân (1968).


                                        Về "home"