Thay lời tựa


Trong cái kho-tàng của nền văn-chương truyền-khẩu Việt nam, chuyện cổ-tích chiếm một điạ-vị quan-trọng, không những vì số-lượng mà còn vì phẩm-chất của nó. Ông bà cha mẹ chúng ta ngày xưa, mỗi buổi chiều thường hay tụ họp con cháu, dưới ánh sáng êm-dịu của ngọn đèn dầu lạc thắp bằng tim bấc để kể lại cho chúng nghe một cách say-sưa những câu chuyện cổ-tích đã lưu-truyền qua nhiều thế-hệ. Từ bên ngoài, ngọn gió hiu-hắt đem theo mùi thơm ngào-ngạt của muôn thứ hương hoa: hoa cau hoa buởi ở trong vườn, hoa dại nơi đồng quê nội cỏ, trong khi vầng trăng rằm từ phương đông duyên-dáng nằm nghe trên đỉnh đầu non. Bởi vậy, từ đời này qua đời khác, những câu chuyện được lưu-truyền qua sự ghi nhớ vẫn cứ chồng-chất mãi mãi làm cho nền văn-chương truyền-khẩu mỗi ngày mỗi phong-phú thêm. Nhưng than ôi ! Số người kể chuyện càng ngày càng ít đi. Thế-hệ hôm nay hình như không muốn lưu-ý đến những điều truyền-thuyết của thời-kỳ xa xưa.

Xét cho kỹ, những câu chuyện cổ-tích không phải chỉ có mỗi một mục-đích là làm vui tai những đứa trẻ ngây-thơ còn chui đầu vào lòng mẹ để tìm sự trìu mến dịu-dàng, mà nội-dung của chuyện cổ-tích là những bài học quí-báu về luân-lý, những điều nhận-xét sâu-sắc về nhân-sinh mà tổ-tiên của chúng ta đã lưu-truyền lại dưới một hình-thức mộc-mạc, dễ nghe. Qua những cốt truyện thô-sơ và đơn-giản ấy, ta có thể tìm lại lối cảm-xúc, cách suy-nghĩ của cả một thế-hệ, ta có thể đi trở về với tâm-hồn của cả một dân-tộc.

Để bảo-vệ cái di-sản quí-báu ấy của tiền-nhân, các nhà văn-sĩ như Trương-vĩnh-Ký, Huỳnh-tịnh-Của, Nguyễn-văn-Ngọc ( chỉ kể những người có công nhất ) đã chịu khó sưu-tầm và ghi chép những chuyện cũ thành sách lưu-truyền cho hậu-thế. Tuy vậy, ngoài những câu-chuyện đã thâu lượm và ghi chép được, còn có rất nhiều những câu chuyện cổ tích dân gian đã bị thất thoát, quên lãng .

Hơn nữa các bậc tiền-bối chỉ lo việc trước-thuật để lưu giữ những chuyện cổ tích dân gian trên mà không còn thời-gian để nghĩ đến vấn-đề sáng-tạo. Tập truyện “Cổ-tích Việt-nam” của nhà văn Lê-văn-Phát, viết bằng tiếng Pháp, xuất-bản năm 1925, chỉ gồm có những mẫu chuyện góp nhặt hơi vội-vàng và ít nhiều không được chính-xác. Gần đây, trong hai tập “Chuyện đất thanh-bình” và “Người đàn bà Nam-xương”, ông Phạm-duy-Khiêm đã quan-niệm vấn-đề viết truyện cổ-tích dưới một góc khoa-học và thi-vị hơn. Chúng ta chỉ tiếc rằng Phạm-tiên-sinh đã dùng tiếng Phá để viết truyện cho nên công-trình của ông không thể nào đem lại những kết-quả mà chúng ta hằng mong-ước.

&&&&&

Vô-tính hay hữu-ý, có nhiều người không muốn đặt vấn-đề sáng-tạo trong khi trình-bày một câu chuyện cổ-tích. Họ thường hay tối-thiểu-hoá sự quan-hệ của phần nghệ-thuật và cho rằng người viết chuyện chỉ có mỗi một việc là ghi chép sự thật một cách hết sức khách-quan.

Bàn cho thật sâu sắc thì yếu tố sáng-tạo là then-chốt trong khi kể chuyện và giá-trị của một tập truyện cổ-tích ít nhiều nằm trong phần nghệ-thuật mà mỗi văn-nhân, thi-sĩ đã khéo đóng góp vào cái sườn mong-manh sẵn có của cốt truyện .

Phần sáng-tạo nầy còn đòi-hỏi ở người viết truyện nhiều sự cố-gắng hơn là ở những bộ-môn thơ văn khác : khi viết truyện cổ-tích, tác-giả phải thâu hẹp phạm-vi hoạt-động của mình vào một số đề-tài nhất-định, vào những cốt truyện thô-sơ mà họ không có quyền thêm bớt vì sợ làm tổn-thương đến sự thật.  Họ không phải chỉ có một việc duy nhất là tường thuật câu chuyện một cách văn tắt, khô khan . Họ phải làm việc như một sử-gia vừa phải khui đống tro tàn để “phục-hồi dĩ-vãng”, vừa phải biết tôn-trọng những hình-ảnh và màu sắc của nó. 

Công việc này còn thiên-nan vạn-nan khi nhà kể chuyện không dùng văn xuôi mà mượn thi-ca làm phương-tiện truyền đạt nội dung và cảm-xúc. Họ bị câu-thúc bởi những lề-lối chặt-chẽ của văn thơ, phải uốn-nắn tâm-tư và lý-trí theo những đòi-hỏi khắc-khe của âm-thanh và niêm-luật, phải có một trí tưởng tượng phong phú, một óc sáng tạo dồi dào .Họ phải là một nhà nghệ sĩ có thể cảm thụ đến tận cùng những cái hay cái đẹp trong câu chuyện , phải biết hòa mình và kín đáo gởi cả tâm tư tình cảm của mình vào các nhân vật . Có như vậy thì văn thơ mới là người và nhà nghệ-sĩ mới có thể mượn những mẫu chuyện đơn-giản của tiền-nhân làm cung-đàn, nhịp-phách để nói lên một cách khôn-khéo và tế-nhị những nỗi bâng-khuâng riêng-biệt của mình.

&&&&&

Đây là quan-niệm của tôi đối với công-việc cấu-tạo và trình-bày một câu-chuyện cổ-tích. Người xưa thường nói: “ biết thì dễ nhưng làm thì khó”. Phương-chi nghệ-thuật là một công-trình lâu dài và gay-go. Tôi chưa có thể thực-hiện được một phần nào những điều tôi mong muốn trong tập sách nhỏ mọn nầy. Dầu sao đi nữa tôi cũng có thể tự-hào rằng tập chuyện cổ-tích của tôi đã viết từ lâu và đã hoàn-thành trong khi tôi còn miệt-mài trên nghế nhà trường. Từ đấy về sau, chiến-tranh lại xảy ra dồn-dập làm cho công-việc ấn-loát phải bị đình-đốn và nguyên-văn phải bị nhiều phen thất-lạc.

Mãi đến bữa nay tập “Chuyện đất thiêng” mới ra đời sau bao nhiêu lần giông-tố. Nó chỉ là cái hình-ảnh phai-nhạt của những tập sách đầy nhụy thơ đã viết ra từ trước nhưng lại không được may-mắn trông thấy ánh-sáng của mặt trời.

Tôi mong các bạn, gần cũng như xa hãy đón nhận nó với một sự khoan-dung không bờ bến và tôi xin hứa làm thoả-mản các bạn một cách đầy đủ hơn trong tập “ chuyện giai-nhân” sẽ xuất-bản vào mùa hè năm sắp đến.


Viết trên bờ sông Hương, một ngày xuân năm Mậu-tuất.

                                                                                                Phạm đình Bách



                          Home                                                                                                                       Xem trang sau