VIỆT-NAM THI-NHÂN TIỀN-CHIẾN            NGUYỄN TẤN LONG                                    Trang 251 - 267                


PHẠM ĐÌNH BÁCH
1910 - 1968

Phạm đình Bách là tên thật, bút hiệu Hoa-sơn, sinh 12 tháng 9 năm Canh-tuất (1910) tại làng An-tây, huyện Quế-sơn, tỉnh Quảng-nam.
Thuở nhỏ ông học chử Hán với phụ-thân; sau đổi bút lông ra bút sắt, thi vào trường Quốc-học Huế, theo học được hai năm, rồi cũng vài người bạn tổ-chức cuộc bãi-khóa vào năm 1926, bị bắt giam ba tháng. Sau đó lại hoạt động cho đảng Tân-Việt, cũng bi bắt giam lần nữa cùng với Đào duy Anh... vào năm 1928.
Sau một thời-gian, ông được phóng-thích, liền ra Hà-nội học trường Albert Sarraut, thi đậu bằng tú-tài toàn phần Pháp năm 1934; tiếp tục học trường luật một năm rồi phải bỏ học vào Sàigòn vì lý-do chính-tr. Nơi đây ông viết giúp cho báo Tranh-đấu của nhóm Thạch-Tạo-Thâu (Trần văn Thạch - Nguyễn văn Tạo - Tạ thu Thâu) và báo Sống của thi-sĩ Đông-H.
Rồi ông lại trở về Huế giúp việc cho chính-phủ Nam-triều.
Biến-cố năm 1945, là người dân Việt, ông bị chìm ngập trong những ngày đen tối của đất nước. Mãi đến năm 1954, hiệp-định Genève được ký-kết, ông về Huế tiếp-tục văn-nghiệp và dạy học để sinh sống.
Tác-phẩm của ông gồm có :
  • Chưa đọng (thơ trữ-tình), xuất-bản năm 1954.
  • Chuyện đất thiêng ( viết để sánh với quyển sách Légende des terres sereines của Phạm Khiêm), xuất-bản năm 1958.
Hai tác-phẩm trên lẻ ra được xuất-bản trước thời-kỳ tiền-chiến, nhưng thực-dân Pháp không cho phép vì ông hoạt-động chính-tr.
  • Vần thơ Tiên-hội, xuất-bản năm 1955.
  • Màu thời-gian, xuất-bản năm 1956.
  • Vần thơ cổ-kính, xuất-bản năm 1961
Ba tác-phẩm sau này sáng-tác sau thời-kỳ 1945.
Ngoài ra Hoa-sơn Phạm đình Bách hiện đã hoàn-thành nhiều bộ sáchÔng định sẽ in ra trước thi-phẩm Chinh Nam, gồm 100 bài đường-thi sáng-tác từ năm 1945 đến nay. Tác-gỉa nghĩ với tập Chinh Nam sẽ đóng-góp ích-lợi cho văn-học hơn tập Vần thơ cổ-kính vì nội-dung phản-ảnh được tình trạng nước nhà trong những năm tao-loạn.
Năm 1968, Phạm đình Bách, mà cuộc đời là cả một dòng chiến-đấu liên-tục, đã bị chết thảm-thương trong biến-cố xuân Mậu-thân và được an-táng tại Đà-nẳng.

***

"Xin hai ông Thanh-Tịnh và Phạm đình Bách cho biết điạ chỉ để chúng tôi gởi tặng báo và mandat."
Trên đây là lời ghi-chú dưới hai thi-bản được đăng trên Hà-nội báo số 5 ra ngày 5-2- 1936 để nhắn tin hai thi-sĩ đã chiếm giải nhất về cuộc thi thơ tháng Hai do báo ấy tổ-chức.
Đọc hai tác-phẩm và lời ghi-chú, chúng tôi thấy như sau: hai thi-sĩ đều chiếm giải nhất đồng hạng. Xét theo thứ-tự trong ghi chú, tên Thanh-Tịnh đặt trước, tên Phạm đình Bách sau, nhưng ở vị-trí đăng thơ, thi-bản Từ đấy của Phạm đình Bách trước, Lời cuối cùng của Thanh-Tịnh sau.
Chúng tôi nghĩ : Toà soạn Hà nội Báo, một mặt làm vừa lòng cả hai thi-sĩ, một mặt vẫn trung-thành được với ý muốn sắp-xếp của mình. Bài Lời cuối cùng (hay Lời trối) của Thanh-Tịnh gợi ta hình ảnh rỏ-rệt và tứ thơ gây được nhiều rung cảm, nhưng Lời cuối cùng lại là thi-bản phóng-tác bài thơ Et s'il revenait un jour của thi-sĩ Bỉ Maurice Maeterlick. Trái lại Từ đấy là một thi-bản sáng-tác của Phạm đình Bách.(1)
Sự-kiện cho ta một nhận-định : tiếng thơ của Phạm đình Bách có giá-trị sáng-tác; còn của Thanh-Tịnh có giá-trị truyền-cảm.
Sự-nghiệp thi-ca của Phạm đình Bách bắt đầu đi vào quảng-đại quần-chúng bằng bước chân danh-dự ấy.
Nếu ở quyển Thượng các bạn đã rung-động theo tiếng thơ của Thanh-Tịnh qua bài chiếm giải nhất - Lời cuối cùng - ở đây chúng tôi xin giới-thiệu thi-bản đồng hạng của Phạm đình Bách : 

Từ đấy

Gặp em ở dưới góc trời xanh,
Em đứng nhìn anh lưu-luyến tình.
Anh nhớ tiền-duyên nên vấn-vít,
Xa em m
ỗi  phút cũng không đành
 
Từ đấy ngày đêm anh vẫn qua, 
Nhà em vắng vẻ đượm sầu pha.
Mỏi trông cửa kín, tường cao cấm,
Chờ lúc đêm tan, bóng nguyệt tà.

Ra về phủi áo giọt sương rơi,
Tợ đứa con chiên mến Chúa Trời.
Qua chốn mộ tàn tìm dấu củ,
Dặm đơờng trở lại, dạ đầy vơi.

Nhớ bóng xa xăm trong tấc gang,
Anh đi ngừng lại. Phút mơ-màng.
Thấy em tựa cửa đương theo dỏi,
Người khách điêu-linh, bước lỡ làng.

Tưởng tượng chưa tan, ngọn gió mai,
Rung mành ảo mộng, lá lay rơi.
Lìa cây vàng úa, gieo đường vắng,
Phút chốc lòng anh cũng rã-rời.

Đến nay chán-nản hết trông mong,
Ôm ấp tình xưa trong khối lòng.
Anh đã gieo thân vào cát bụi,
Tuyệt-vời mây nước kiếp mênh-mông (2)
                        (Giải thưởng Hà nội báo, 2-1936)

Khảo-sát, chúng tôi thấy thi bản Từ đấy của Phạm đình Bách văng-vẳng cung-điệu Tiếng gọi bên sông hay Giây phút chạnh lòng của tác-giả Mấy vần thơ. Từ hình ảnh người chinh-phụ của Thế-Lữ đang "dấn bước truân-chuyên khắp hải-hồ" và cũng đang "cưới phen thất-bại khinh nguy-hiểm", lại còn kiêu hãnh tự-hào:

Trong thuở bình-sinh đôi mắt ta
Không hề cho đẵm lệ bao-gi.
                    (Tiếng gọi bên sông- Thế-Lữ)
Thế mà chỉ vì đôi câu hát réo rắt bên kia sông đã khiến khách chinh-phu mềm lòng, tê-tái; cho được quân-bình lại trạng thái sinh-hoạt bình thường, người chinh-phu của Thế-Lữ đã phải bặm gan:

Đau lòng rứt mối tơ vương-vấn,
Nước mắt đầu tiên lã-chã rơi.
                    (Tiếng gọi bên sông - Thế-Lữ)
 
Trái lại người khách giang-hồ của Phạm đình Bách đã vấn-vít tơ vương rồi mới cất bưc lưu-ly. Hai cảnh huống trái ngược. Ta thấy con người giang-hồ của Phạm đình Bách ý chí sắt đá hơn.

***

Nhận xét tiếng thơ Phạm đình Bách, chúng ta có thể phân chia hai dòng: Tân và Cựu.

Giờ hãy nói dòng "Tân" trước.
Hòa với nhịp bước rập rồn của thể thơ mới, Phạm đình Bách đã cấu tạo thi-bản như Lâu đài trên không và Hồ Tịnh-tâm ..v..v...chứng tỏ thi-sĩ Hoa-sơn là tín-đồ của phái mộng mơ, triền-miên theo dòng thơ dằng-dặc; mỗi thi-bản là một chuyện tâm-tình được phổ nhạc thơ, lôi cuốn hồn thơ quyện theo từ một quá-khứ đến hiện tại. Một hiện-tại của u-buồn, trống rỗng gần như cô-độc của một người thơ ngồi mãi dưới ánh trăng chênh mong tìm gặp lại bóng hình ngày nào của người con gái mến yêu. Thời-gian nhẹ cánh bay như gió thoảng, có cái xuân hồng nào bền gan chờ-đợi 
thi-nhân để sánh bước quanh hồ ngắm mùa sen nở để phải tủi hổ với hoa. Kiếp hoa và kiếp người nào khác chi nhau.
Ba mùa đã rụng, ngày tháng đủ dài cho đôi chim vành khuyên sinh nở mấy lớp chim non. Vậy thi-nhân hãy "bình lòng" ngồi lại bên hồ "Tĩnh tâm" mà suy nghiệm lẽ sinh sinh hóa hóa của vạn-vật.
Trong "Lâu đài trên không", thi-nhân đã dệt một giấc mộng tình. Thi-nhân muốn xây đắp cho người yêu một lâu đài "nguy-nga, rực-rỡ" trên chín tầng thượng-giới; nơi đó đôi tình-nhân sẽ say đắm trong hạnh-phúc nghìn đời; nơi đó hồn và thể thoát nhẹ khỏi phiền lụy khi nghe khúc tiên ca.Thi nhân còn vẻ lên những cảnh với người yêu:

Ta sẽ về những nơi rực-rỡ, nguy-nga,
Anh đã vì em trang-hoàng lộng-lẫy.
Rồi trên lầu hồng, gác tía lặng nhìn lửa cháy,
Của mặt trời hun đốt các ngôi sao;
Em cùng anh liếc mắt nhìn vào,
Những thế-giới mênh-mông trong không-gian vô-hạn.

Quả là một cảnh hiền mơ, nhưng người yêu của th-nhân từ chối vì:

Cảnh bồng lai của anh trên tiên-giới,
Em điềm-nhiên chẵng dám mơ mòng, 
Vì anh nhọc lòng xây đắp trên không.
Em chỉ sợ gió  qua liđổ nát,
Như lâu đài chúng ta một hôm trên bãi cát.

Nhưng những cái hữu-hình mà em cho là thực ở trần giới nào cơ hơn gì:

Ôi! bao nhiêu cảnh huy-hoàng nơi thượng-giới,
Em không muốn cùng anh vui tới,
Lại ham điều tục-lụy của trần-gian.
Nhưng trước mắt em muôn vật vẫn rơi tàn

Lâu đài trên không mà ý-nghĩa chung cuộc cho ta rút một tinh lý: Mộng và thực ở cõi đời này chỉ là một; nó là cái không sắc, sắc không của nhà Phật.
***
Bây giờ chúng tôi xin luận qua dòng thơ Đường của Phạm đình Bách. Sau khi tấu lên những hồi nhạc thơ theo cung-điệu tân-kỳ và được lắm khách yêu thơ ái mộ, Phạm đình Bách liền quay lại bến đư xưa, tỏ mòt lòng thủy-chung cùng thơ đường luật.
Nếu một Quách Tấn đã nói: " đối với thơ, tôi không tách biệt "mới" và "củ". tôi lựa thể đường luật vì thấy hợp với tâm hồn mình"
Phạm đình Bách thì nhận xét rằng: "......hiện nay thấy người đời ai nấy cũng theo đòi cái mới ở phương tây và quên mất cái củ ở phương đông"
và vì :
"Đường thi lại còn là cái tinh hoa của sông núi, cái khí hạo-nhiên của vũ-trụ, một thứ bông thơm cỏ lạ đã nẩy nở lần đầu tiên trong thời-kỳ trung-cổ ở trên bờ sông Hoàng-hà và Dương-tử-giang".
Thi-nhân chỉ "tiếc cái gia-sản của tổ-tiên" nên noi theo sự-nghiệp chớ không có cao-vọng như đã nói trong "thay lời tựa" của tập vần thơ cổ-kính:
"Bỉ-nhân không bao giờ có cái tham-vọng tiến tới những chổ siêu-việt trong nghệ-thuật làm thơ, cũng không cuồng dại gì mà tưởng rằng mình sẽ có thể đạt tới cái đỉnh cao nhất trong dãy Hy-mã".
Tiếng thơ đường luật của Phạm đình Bách cũng mang một cung-điệu buồn thương gần với tác-giả " Mùa cổ-điển" họ Quách ở giai-đoạn thơ từ 1945, nhưng đề tài của họ Phạm rộng rãi hơn.
Trong hồi khói lửa của nước nhà, hai nhà thơ ôm chung một niềm u-ẩn, buồn đau,lắm khi uất nghẹn; hồn thơ của họ chảy ra trên nền giấy ta tưởng chừng như dòng lệ lòng của những nạn-nhân quằn-quại trong hành-động điên rồ và bỉ-ổi của nhân-loại.

Gi
ữa phố nhà nghiêng còn gượng-gạo,
Mấy hàng lũy sắt đứng trơ-vơ.

Đạp đổ, bắn phá, giết chóc, máu đã chảy loang lòng đất. Nhìn lũy sắt trơ vơ, ngôi nhà xiêu vẹo như những tang-vật tố-cáo một mùa sắt và máu:

Binh l
ửa mười năm tan gối mộng;
Nước non một phút hóa dâu cồn.

đã khiến cho: 

C
ô em ra đứng bên thềm vắng,
Nhìn bóng tang-thương dạ thẩn-th.

***

Lược qua hai dòng thơ của Phạm đình Bách, dòng lãng-mạn ta hãy coi đó như tiếng phụ hoạ cho nền thơ mới, dòng đường thi mói là tiếng lòng đích-thực mà thi-sĩ Hoa sơn đã ký-thác trọn vẹn nỗi niềm của một kiếp đời đối với bản thân cũng như đối với quốc-gia dân-tộc.

Thi Tuyển 


                            ----------------------------------------

Phần thi-tuyển: Tác-giả của  Việt-nam thi-nhân tiền-chiến, Nguyễn tấn Long đã chọn để giới-thiệu các thi-bản sau đây:

  • Lâu đài trên không
  • Hận không-gian
  • Hồ Tịnh-tâm
  • Chim quạ khoang
  • Thu tứ
  • Thu cảm
  • Khứ-lưu vi-định
  • Xuân-tác
  • Thu hoài
  • Đổi mùa
  • Hương-Bình tức-cảnh
  • Thất-thủ
  • Thổn-thức 

Xin độc-giả đọc các thi-bản trên trong các tập thơ của Hoa sơn.

*********************
(1)Chúng tôi tưởng cũng nên ghi lại đôi chút thể-lệ cuộc thi thơ lúc bấy giờ để các bạn hiểu qua. Trong lúc ngọn triều thơ mới đang hồi dấy động, các báo đua nhau tổ-
chức các cuộc thi văn thơ như thế là đã trếc-tiếp giúp phong-trào bành-trưng mạnh khuyến-khích những mầm thơ mại lạ, tạo được sư lượng thi nhân ngày càng phong-phú.
Sự tưởng thưởng những thi tài mới nổi của Hà nội báo như sau: giải nhất 10 đồng, nhì 5 đồng, ba và tư  một năm báo ( bằng 1 đồng 30 xu).
Để các bạn định được tầm giá-trị quan-trọng của giải-thưởng, chúng tôi xin mạn-phép làm một bản thống-kê sơ-lược sau đây:
Năm 1936: báo 32 trang giá : 3 xu
Năm 1968: báo 32 trang giá : 10 đồng
và các bạn chịu khó làm một bài toán nho nh.

(2). Thi bản Từ đấy, gia đình Hoa sơn ghi lại đúng nguyên-bản in trong tập Chưa đọng do chính Hoa sơn xuất-bản năm  1954.




             Về "Home"                                         Về Tài liệu liên-quan
------------------------ --------------------------------------------------------------------------