Chiếc áo Xi-ta

Ngày anh ra đi
Em chng nói chi,
Chỉ đôi dòng lệ
Trên hàng lông mi.

Ngày Ba ra đi
Con chng nói chi,
Chỉ ngồi mếu-máo
Bên hàng sơ-li.

Chiếc áo xi ta
Em vội lấy ra,
Tặng anh đường chỉ
Kẻo tình phôi-pha.

Anh lên Tiên-hội,
Anh xuống Tiên-châu,
Những ngày tại nội
Dài tựa thiên-thâu.

Áo xưa anh vẫn gối đầu,
Tình xưa chẳng để phai màu thời-gian.

&&&&&

Bài này Hoa-sơn ghi lại bằng vài nét chấm-phá tình-cảnh lúc tác-giả bị cán-bộ Việt minh vào nhà bắt dẫn đi tù sau đợt đấu-tố.
* Hàng sơ-li: hàng rào bằng cây sơ-li ở vùng Quế-sơn.

*Áo xi-ta: xi-ta là loại vải thô, nội-hóa, sản-xuất tại vùng liên-khu 5, trong thời-gian chiến-tranh 1946 - 1954.










































        Home                            Muc luc



 Tâm-sự *


Từ ngày tố-khổ lên men,

Việt-Minh tới bt chồng em lên đồn.

Ra đi trong buổi hoàng-hôn,

Em lo thu-xếp bán-buôn qua ngày.

Tới đây nào biết đông tây,

Trông lên chỉ thấy núi mây chập-chùng.

Phần thời gan dạ nấu-nung,

m con lẻo-đẻo khốn-cùng một thân.

Ba năm lưu-trú quê người,

Ngày đêm vò-vỏ nào ai biết mình.

Có khi ngồi ngắm trăng thanh,

Sau nhà vượn hú, bên đình quạ kêu.

Gà hoang tao-tác lưng đèo,

Canh khuya bó-buộc** lại về nỉ- non.

Thân hình ngày một héo-hon,

Còn thêm công-tác dập-dồn bên lưng.

Có khi lội suối băng rng,

Dân công tiếp-vận mấy từng non xanh.

Có khi khiêng muối, tải tranh;

Khi khu rừng đá, gập-ghềnh bờ đê.

Có khi trong dạ ủ-ê,

Đường xa chân mỏi, trăm bề khó khăn.

Phải lên trú-sở phê-bng***,

Đêm đêm về thấy sao băng ngang tri.

Ăn thi củ sắn, củ khoai,

Ngọt bùi chỉ có dầu lai, muối vừng.

Lưng đèo có đám lau sưng,

Em đi em hái ăn lần cho qua.

Cuối ghềnh ngọn lốt mới ra,

Rau xanh mi bén, người xa chưa về.

Đầu ghềnh có lá mùng tơi,

Có chùm mè đất lả-lơi bên đường.

Dọc ghềnh có đám rau mương,

Rau trông, rau đi, rau thương, rau buồn.

Lá vàng rơi rụng ngỏ truông,

Ba năm rau nh ăn mòn tấm thân.

Rau xa rồi lại rau gần,

Còn chòm rau tảo, rau tần bấy lâu.

Có khi ăn phải bạc đầu,

Ngâm rau vạn thọ mồi sầu chưa nguôi.

Nh ai em nhng bùi-ngùi,

Trạnh lòng nhớ đến giờ vui thu nào.

Lồng đèn ai mc lên cao,

Nầng hoang ai bới ai đào dưới sâu.

Găng này hái để cho nhau,

Mà người năm trước, năm sau vng rồi.

&&&&&&&&&


(**)"Bó buộc" là tên một loài chim thường kêu vào ban đêm. Thi Việt Minh, tiếng kêu âm vang nghe như " bắt quan trói buộc" nên người ta gọi là chim bó buộc.

(*) :Tựa đề do gia-đình tự đặt, bài nầy ghi lại từ ký-ức.

(***) : Phê-bằng tức là “phê-bình” một sinh-hoạt căn-bản của chế-độ Việt-minh, Cọng-sản, thực-hiện hàng tuần. Mỗi người phải tự kiểm-điểm những sai sót của mình và sai sót của những người chung quanh, hàng xóm, bạn bè trước buổi họp do đảng tổ-chức. Chính sinh-hoạt nầy là nguyên-nhân gây nghi-kỵ lẫn nhau trong các tổ-chức tế-bào của xã-hội.


Xem trang sau