Vụ dân-biến miền Trung-Việt.


Thời bấy-giờ thành-phố Hội-an vẫn còn là trung-tâm-điểm của miền Trung-Việt. Hải-cảng Đà-nẳng, vừa mới chớm nở trên địa-phận làng Thạc-gián, chỉ là một ngôi sao lu mờ, tẻ-nhạt. Hằng ngày, những chiếc tàu thủy ngoại-quốc mang ống khói cao vòi-vọi, những chiếc ghe mành địa-phương dăng buồm ba cạnh vẫn ra vào tấp-nập trên cửa Đại-an, rồi theo giòng sông Thu-bồn lên đậu lô-nhô lúc-nhúc tại ranh-giới những làng Kim-bồng, Trà-nhiêu và Điện-hội. Việc mậu-dịch trên mặt nước làm cho tỉnh-lỵ Quảng-nam trở nên một nơi phồn-hoa đô-hội vào bậc nhất tại miền viễn-đông này. Trong thời-gian gần đây, chiến-tranh  xảy ra liên-tiếp trên khắp lãnh-thổ, triều-đình nhà Nguyễn không tổ-chức tại thị-trấn nầy những cuộc chợ phiên hằng năm để trưng-bày sản-vật ở khắp bốn phương như trong các thế-kỷ về trước, nhưng việc thương-mại vẫn náo-nhiệt hơn bao giờ hết. Tất cả các thứ ngôn-ngữ Âu-Á có thể gặp nhau ở khu-vực chùa Cầu, nơi các vị truyền-giáo thường hay tụ-họp để mở những buổi thuyết-pháp. Du-khách với màu da khác nhau qua lại trên những con đường nhỏ hẹp đông-đúc. Ở đây mỗi buổi sớm, mùi cau khô, mùi quế-chi, mùi nước mắm Phan-thiết phát xuất từ những kho hàng, chen lẫn với mùi cao-lâu, mùi rượu quân-thắng tỏa ra từ các phạn-điếm. Người Trung-hoa, người Chà-và, người Nhật-bản đều có những xóm cư-trú riêng-biệt trong những phần đất-đai đã dành sẵn. Người Hòa-lan, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, Anh-cát-lợi chỉ qua lại buôn-bán mà thôi, nhất là trong thời-kỳ chợ phiên đương nhóm họp, họ không có trụ-sở vĩnh-viễn. Ảnh-hưởng của ngoại-bang cũng như của người Tàu trong vùng nầy thật là sâu rộng. Không những mấy chú con trời đã thao-túng thị-trường tại miền duyên-hải, mà từ đấy cho đến những vùng thôn-quê, làng-mạc hẻo-lánh, chìm đắm hẳn trong những vùng thâm-u của dãy núi Trường-sơn, khắp đâu đâu họ cũng đóng vai-trò chỉ-huy về mặt kinh-tế. Dân-tộc Việt-nam chỉ giữ địa-vị chủ-nhân một cách tượng-trưng. Đàn ông phải đi làm thuê, làm mướn, làm bồi, làm bếp, có nhiều lắm là đi làm thông-ngôn, mã-chín; đời sống hẩm-hiu, thấp kém. Số-phận người đàn bà thì muôn năm vẫn không hề thay-đổi, họ có thể làm mẹ cho những người Âu, người Mỹ, người Trung-hoa hay người Nhật-bổn. Lúc mới rời bỏ quê-hương để về nhà chồng, họ chỉ là cô gái đồng-trinh còn giữ nguyên-vẹn những tập-tục, những lề-lối của tổ-tiên. Một khi qua cầu được một thời-gian, họ thay hình đổi-dạng, tự-nhiên trở thành những người dân vong-bản. Hằng ngày, hằng giờ, có biết bao nhiêu cô thôn-nữ ngây-thơ, chất-phác phải chuyển-hướng, phải gạt giọt lệ để lên đường. Ở đằng sau họ, có biết bao nhiêu người thân yêu phải núp dưới lũy tre xanh mà ngậm-ngùi, than-thở:


Gió đưa bông lách, bông lau,

Ai đưa ả bậu về Tàu Hội-an!

Hội-an bán dấm, bán điều;

Kim-bồng bán vải, Trà-nhiêu bán nồi.


Sở dĩ có nhiều người phải trở gót sang-ngang vì ngày xưa thành-phố Hội-an có một sức hấp-dẫn rất mạnh đối với những vùng lân-cận. Những người buôn-bán ở khắp toàn quốc, nhất là ở những tỉnh Bình-định, Quảng-ngãi, Quảng-trị, Thừa thiên, thường hay qua lại thị-trấn Hội-an để tiêu-thụ những sản-phẫm của mình và đổi lấy những phẩm-vật của ngoại-bang có phẫm-chất tốt hơn. Việc giao-thông từ miền nầy qua miền khác có thể thực-hiện một cách dễ-dàng bằng những phuơng-tiện cổ-điển. Có người theo con đường cái-quan trên những chiếc võng, chíếc kiệu kềnh-càng hay những con ngựa Phú-yên bền sức. Có người lại theo con đường hàng-hải, trên những chiếc ghe bầu đồ-sộ, bất-cứ lúc nào cũng sẵn-sàng rẽ sóng vượt trùng-dương. Chỉ phải e-dè trước sự xuất-hiện bất-ngờ của bọn giặc Tàu-ô, nhưng bao giờ h cũng chuẩn-bị sẵn-sàng để chiến-đấu. Gặp lúc gió nồm đương lên, người ta có thể rời tỉnh-lỵ Quảng-nam vào lúc hoàng-hôn, qua một giấc ngủ đã vào tới Nha-trang, Phan-thiết, rồi thẳng đường đi châu-du miền Đồng-nai lục-tỉnh. Người ta cũng có thể ven theo bờ biển ra thăm miền Nghệ-an, Thanh-hóa, rồi luôn tiện vào cửa Thần-phù để liên-lạc với miền châu-thổ sông Nhị-hà không mấy khó-khăn.

Nhờ có bọn thương-nhân làm trung-gian, những tin-tức về vụ cự-sưu có thể loan ra khắp nơi trong vài ngày.

Phong-trào xin xâu xảy ra vào mùa xuân năm 1908 là một cơ-hội thuận-tiện để cho người Pháp tiêu-diệt những nhà ái-quốc Việt-nam. Cuộc bạo-động này có thể bành-trướng được là vì thi bấy giờ phong-trào Cần-vương đã tan-rã, người Pháp bt đầu thi-hành một chính-sách bóc-lột quá trắng-trn. Không nhng họ đã bày ra nhiều thứ thuế đinh, thuế điền, thuế rừng, thuế muối, thuế chợ, thuế môn-bài, mà còn phụ thêm một khoản ngân-sưu quá ác-nghiệt. Hễ người nào không có tiền nộp thuế cho bọn lý-hương thì phải đi làm xâu cho chính-phủ. Những người làm tư-ích thì có thể phục-dịch tại địa-phương; còn nhng người làm công-ích thì phải cơm đùm, cơm gói đi làm đường-sá nhng tỉnh xa-xôi, phải bị bọn lính-tráng đánh-đập tàn-nhẫn. Những hạng nông-dân quê-muà, dốt-nát phải chịu tất-cả mọi thứ hình phạt oan-trái, phải sống âm-thầm trong tình-trạng bào-da cắt-ruột mà không bao-giờ dám có một lời phản-đối. Họ sợ cái uy-quyền của bọn tham-quan ô-lại. Họa-hoằn lm họ mi mượn câu ca dao để tỏ-bày một cách tế-nhị những tâm-sự của mình:


Thương thay thân-phận quả dừa,

Non thì khot mt, già cưa lấy đầu.


Đến thi-knầy, họ đã bắt đầu chịu ảnh-hưởng của phong-trào Đông-du và nhất là phong-trào Duy-tân. Bây giờ họ đã ý-thc được cái sc-mạnh của sự đoàn-kết, của đám đông quần-chúng, về tinh-thần tự-lực tự-cường. Họ sẵn-sàng đứng dậy đấu-tranh cho quyền-lợi của mình, của mọi người, cho nền độc-lập của nước nhà và xây-dng viên gạch đầu tiên cho nền tự-do dân-chủ. Trong khi thực-hiện cuộc đấu-tranh, họ chỉ đặt nng vấn-đề tự-lc cánh-sinh, không núp dưới bóng một vị vua-chúa như trong thi-kỳ phong-kiến, không dựa vào một thế-lực, một bậc danh-nhân như trong thi-kỳ cần-vương; hay trông cậy vào một sự viện-trợ của ngoại-bang. Những kẻ chủ-động trong vụ kháng-sưu nầy là học-sinh và một số lý-hương thôn-quê. Ngày hôm qua, họ vừa mi ly-khai vi cái búi tóc chm bm trên ót, vi chiếc áo đen luộm-thuộm trên thân. Hôm nay, họ đã được quần-chúng trông cậy như một người lãnh-đạo, một người đấu-tranh can-đm, sẵn-sàng hy-sinh đ giúp dân-chúng chống-chọi với bạo-quyền, cứu-vãn lại thời-cuộc. Lúc ban đầu, họ đứng ra giúp người dân đương-đầu với sự bóc-lột của bọn quan-lại thối-nát. Họ giúp xúc-tiến các vụ kiện-cáo rầm-rộ để đánh động người dân về các tệ-trạng tham-nhũng, bóc lột của bọn tham quan ô-lại. Dần dần, họ đã biến những vụ ức-hiếp nhỏ tại thôn làng trở thành một phong-trào chống thực-dân mạnh như nước lụt vỡ đê, lôi cuốn tất cả các tỉnh miền Trung-Việt, từ Bình-thuận đến Thanh-hóa vào trong vòng tranh-đấu và đe-dọa lan rộng ra cả hai miền Bắc-Việt, Nam-Việt.

Phong-trào xin xâu bộc phát tại Quảng-nam; nhờ có bọn thương-nhân làm trung-gian, nhng tin-tc về vụ cự-sưu có thể loan ra khắp nơi trong vài ngày. Tại miền Trung-Việt, cuộc bạo-động đã xảy ra nhiều nơi cùng một lúc, sớm muộn cũng chỉ cách nhau trong vòng một hai ngày mà thôi.

Tại Bình-định,i có tiếng đặc-biệt về nghề hát-bội, nghề đấu võ, nơi chôn nhau ct rốn của vua Quang-Trung, cuộc khởi-nghĩa lẽ tất-nhiên phải có một sắc-thái riêng-biệt và kéo dài đến non hai tháng mới chấm-dứt. Dân-chúng kéo ti bao-vây tỉnh-lỵ với sự sắp đt có th lp, có qui-củ lắm. Trước hết, vòng đai bên trong là đoàn người cảm-tử, có mang vũ-khí giấu kín trong người. Lp bên ngoài là đoàn dân t-cường, người nào người nấy cũng cạo trọc đầu, nằm la-liệt trên mặt đất để phản-kháng theo lối bất bạo-động. Vì vậy người ta mi gọi vụ phiến-loạn nầy là giặc đồng-bào và đoàn-thể lãnh-đạo là đảng cúp tóc. Cuối cùng người Pháp phải dùng tới vũ-lc mi giải-tán được.

Tại Quảng-ngãi, dân-chúng cũng kéo ti bao-vây tỉnh-thành đông như bầy kiến vừa v tổ. Mỗi người đều mang tòng-tơn trên vai một chùm bắp trái, hoc năm ba củ khoai làm lương-thc. Ai nấy cũng mặc quần chằm, áo rách, cũng có vẻ bơ-ph tiều-tụy như một lũ ăn xin vào nhng năm đói kém. Họ cho người mang nguyện-vọng vào tỉnh-đường, rồi hè nhau nằm sát-rạt trên bãi cỏ để phản-đối. Viên công-sứ Daudet điện về toà khâm-sứ Huế để xin lệnh đàn-áp, nhưng cấp trên không đồng-ý. Bc mình, viên công-s cho m ca thành và ci nga đi ra phía bên ngoài để thị-sát. Dân-chúng cứ nm lì trên mt đất để cho những chiếc vó-câu giẫm trên thân-hình. Vụ nổi-loạn cứ kéo dài và chưa có lối-thoát. Sĩ-dân thay phiên nhau công-hãm thành-trì được mười ngày thì nguyên tiểu-phủ-sứ Nguyễn-Thân từ Huế đi vào và nói nhỏ với viên công-s Daudet:

- Ngài chỉ cần phải bắt hai người là bố-chánh Lê-tự-Khiết và ấm-sanh Nguyễn-bá-Loan đem giết quách thì vụ phiến-loạn này sẽ bị dẹp yên tức-khc.

Công-s Daudet theo đúng kế-hoạh ấy, bắt hai vị cầm đầu phong-trào xin xâu, bỏ vào trong hai chiếc võng, buộc thật kỹ rồi cho người khiêng xuống ca Sa-huỳnh, dùng ghe bầu chở ra Huế. Tại Huế người Pháp và các vị đại-thần trong viện cơ-mật hội-họp lại để xét xử và y theo lời đề-nghị của viên công-sứ Daudet, họ tuyên-án cho đem ra hành-quyết tại tỉnh-lỵ Quảng-ngãi để thị-uy dân-chúng. Một ngày sau, hai nhà cách-mạng Lê-tự-Khiết và Nguyễn-bá-Loan được khiêng về trả cho nhà chức-trách địa-phương. Viên công-s Daudet đem hai nhân-vật ấy ra chém tại bến xe sông Trà-khúc, rồi cho lính-tập mang khí-giới lên bố-trí dày đặc trên b thành. Cuộc đàn-áp xảy ra trong nháy mắt. Bọn thực-dân châm ngòi la trước hết, nhã tạc-đạn trên biển người nm la-liệt. Một số sĩ-dân bị thương quằn-quại trong vũng máu, một số khác bị chết. Dân-chúng không chống-cự nỗi, vùng dậy tìm chỗ ẩn-núp và phân-tán. Trong khi ấy, từ đng xa lại có những tiếng trống, tiếng mỏ tiếp-ứng dấy lên rộn-rịp. Trên nhng cánh-đồng bao-la dân-chúng ở các quận, các ấp kéo tới đen nghịt. Viên công-s Daudet ra lệnh cho bọn lính-tập chỉa mũi súng về phía các làng-mạc và bắn tạc-đạn ra như một trận mưa rào. Đàn ông, đàn bà, con nít và rất nhiều nghĩa-quân vừa mi kéo ti để hổ-trợ cho nhng đồng-bào bị nạn đã ngã gục trên bãi chiến-trường không đếm được. Cuối cùng cuộc khởi-nghĩa bị chận đứng.

Quảng-nam là nơi vụ dân-biến nầy phát-xuất và lan dần ra toàn quốc. Ban đầu, cuộc bạo-động chỉ thu hẹp trong phạm-vi một xã Hà-tân trên b sông Vu-gia, cách tỉnh-lỵ chừng bảy chục cây-số. Nguyên ở tại xã nầy, bà con cử-nhơn Lương-thục-Kỳ, tác-giả tập Ngạn-ngữ, thường hay giao-du vi bà con quan Ông-ích-Khiêm, ở làng Phong-lệ, huyện Hòa-vang. Hai họ ấy là hai cự-tộc trong địa-hạt, có ảnh-hưởng ln đối với dân-chúng. Vào thượng-tuần tháng ba năm 1908, học-sinh Lương-Châu làng Hà-tân có mi hai người bạn đồng-song là Trương-Hoành và Ha-Tạo, người làng Phiếm-ái và một số lý-hương đến ăn gi tại nhà mình. Trong khi mọi người còn đương chén-tạc chén-thù, câu chuyện xoay lẹ-làng chung-quanh vấn-đề xâu cao thuế nặng thì chủ-nhân đứng dậy nói:

- Không những chúng ta bị bọn thực-dân bóc-lột một cách thậm-tệ, mà trong lúc thừa-hành phận-sự, bọn cương-hào lại toa-rập với bn tham-quan ô-lại đục-khoét dân ta đến tận xương tủy. Như vậy tại sao chúng ta không làm đơn-t, lấy chữ-ký các xã-thôn, rồi nhờ huyện chuyển-đạt lên cấp trên để xin chính-phủ giãm bt sưu-thuế và trừ bt cái nạn nhũng-nhiễu trong dân gian, kẻo để lâu ngày đồng-bào ta chịu không nỗi.

Có nhiều người tán-thành li đề-nghị ấy. Học-sinh Lương-Châu lấy bút mực ra thảo ngay một lá đơn khiếu-nại, đi lấy chữ ký các vị lý-hương có mt trong ba tiệc, và dự-tính đi lấy cho hết chữ ký tất cả các bậc thân-hào viên-chức trong hạt để làm áp-lực. Công việc đang tiến-hành thì một viên lý-trưng chạy lên phi-báo với quan huyện sở tại:

- Sĩ-dân vùng Đại-lộc đã nghe theo li xúi-giục của một số học-sinh mà làm đơn-t đi phản-đối chính-phủ.

Viên quan huyện làm công-văn, chạy đi báo-cáo vi tỉnh-đường và buộc những người cầm đầu vào tội xúi dân làm loạn. Công việc v-l, không thể nào giấu-giếm được na, bọn lý-hương phải rủ nhau vác đơn-t lên nha Đại-lộc để nhờ quan huyện can-thiệp giúp. Va ti nơi, họ nghe tin quan huyện đã chạy đi bẩm tỉnh về vụ nầy. Mọi người còn đứng nhìn nhau chưa biết xử-trí ra sao thì học-sinh Trương-Hoành đng ra đề-nghị:

- Thôi ta cứ kéo nhau xuống tỉnh-đường mà kêu nài, có việc gì đâu mà phải lo ngại.

Một số lý-hương có vẻ dè-dặt, c trù-tr mãi không chịu lên đường, học-sinh Hứa-Tạo lại nói thêm vào một câu để thôi-thúc:

- Nếu không kêu ca đi na, việc đã đáo tụng-đình thì chúng ta cũng không khỏi bị khép vào mục tụ họp đông người, liên-danh ký-chỉ.

Thế là bọn sĩ-dân kéo nhau đi xuống tỉnh-lỵ. Cùng lúc, học-sinh Lương-Châu cho người ra làng Phong-lệ để cáo-tri với Ông-ích-Đường, Ông-ích-Mật, hai vị cầm đầu ở huyện Hòa-vang.

Đoàn biểu-tình lúc mi xuất-phát chỉ gồm võn-vẹn có vài ba mươi vị lý-hương. Trên con đường quốc-lộ, từ huyện-lỵ cho tới tỉnh-thành, dân-chúng ở hai bên thôn-xóm, nghe nói các vị thân-hào Đại-lộc đi về tỉnh xin xâu cho dân-chúng thì mng lm, rủ nhau đi nhập bọn để gây thêm áp-lực. Số người tham-gia mỗi lúc mỗi lúc mỗi đông thêm. Một khi họ tới Vĩnh-điện thì đám biểu-tình đã biến thành một biển người, khó mà ước-lượng cho chính-xác được. Quan tổng-đốc Quảng-nam Hồ-đắc-Trung thấy sĩ-dân kéo tới bao-vây tỉnh-thành có ý lo ngại, cho lính đứng trên vọng-gác mà hỏi:

- Các người đâu mà ti đông như vậy, muốn hỏi điều gì thì c trình lên cho quan biết.

Học-sinh Lương-Châu liền thay mặt cho đồng-bào mà trả-lời:

-Chúng tôi Đại-lộc theo quan huyện xuống tỉnh-đường để xin sưu-thuế cho dân-chúng.

Bọn lính chạy vào tư-thất quan tổng-đốc một chặp lâu rồi trở ra đng chống nạnh trên bao-lơn mà hiếu-dụ:

- Quan huyện các anh đã có trình rng nhân-dân vùng Đại-lộc tụ-tập bất-hợp-pháp để cùng nhau khỉ-ngụy và đã chạy xuống phi-báo với quan công-s rồi. Các anh nên xuống dưới phố Hội-an kia mà kêu nài, chứ quan tổng-đốc không có quyền xét việc ấy.

Hai tiếng khỉ-ngụy vừa được thốt ra càng khiến cho mọi người càng cương-quyết, phải đi cho ti cùng. Tc thì họ rủ nhau kéo xuống phố. Con đường thiên-lý t Vĩnh-điện xuống Hội-an dài chừng mười cây-số, dân-chúng từ các làng hai bên đường lại gia-nhập thêm vào đám đông, biến cuộc hội-họp nhỏ-nhen lúc ban đầu ở làng Hà-tân thành ra một cuộc diễn-hành vĩ-đại. Ai nấy cũng cơm đùm cơm gói, quần rách áo mang, kéo đi rên-rễn ở ngoài phố, chiếm hết tất cả các nẻo đường. Viên công-s Charles thấy dân-chúng hội-họp đông quá sc tưởng-tượng, liền phái lính-tập ra ngăn cản lại, chỉ cho phép một ban đại-diện mười người vào yết-kiến. Lương-Châu, Trương-Hoành, Ha-Tạo được dân-chúng c lên để đại-diện cho mình, vào tiếp-xúc với các nhà cầm-quyền:

- Chúng tôi là những người chân lấm tay bùn, hằng ngày phải sống vất-vả nơi đồng khô cỏ cháy, cày cấy không đủ mà ăn, làm lụng không đủ mà mặc; gp nhng năm cơ-hàn thiết-thân thì chỉ biết mỗi một việc là chết đói mà thôi. Nay chính-phủ không hiểu thấu những nỗi cực nhọc của chúng tôi, lại bày ra nhiều thứ sưu-thuế quá nặng nề. Một phần chúng tôi không đủ sức chịu đựng nhng th đãm-phụ ấy, một phần khác chúng tôi lại bị nạn cường-hào nhũng-nhiễu, thâu mười nạp một, làm cho đời sống chúng tôi đã khổ-sở lại càng khổ-sở thêm. Chúng tôi là nhng kẻ ngắn cổ kêu không thấu trời, nên phải kéo nhau tới trước ca công để trình-bày nhng nguyện-vọng thành-thật nhất của chúng tôi và đồng-thời xin chính-phủ giảm nhẹ bớt các khoảng sưu-thuế cho dân-chúng được nh.

Viên công-s Charles trả-lời:

- Các anh muốn xin xâu-thuế thì phải làm đơn-t kêu-nài vi quan trên, ch tụ-tập đông người là cố-ý làm loạn sẽ bị đàn-áp. Vả lại về việc sưu-thuế, toà công-sứ Quảng-nam cũng không có quyền xét giãm. Vậy các anh phải hiểu-thị cho dân-chúng biết để họ giải-tán ngay và trở về an-cư lạc-nghiệp. Tòa công-sứ Quảng-nam sẽ tư hỏi ý-kiến phủ toàn-quyền và triều-đình Huế về vụ nầy. Khi nào chính-phủ trả-lời có được giãm hay không, toà công-s Quảng-nam sẽ loan báo ra cho tất cả ai nấy đều biết.

Mấy người đại-diện nhân-dân cứ kh-n mãi, không chịu ra giải-thích cho quần-chúng, viên công-sứ Charles phải bảo thượng-tá Nguyễn-Khải ra nói thay thế, truyền-đạt những li hiếu-dụ trên nầy cho đám biểu-tình nghe rõ. Họ vẫn không chịu rút lui, viện lẽ rằng vụ thuế-khoá đã gần tới kỳ khai-mạc, nhiều nơi mõ trống đã bt đầu gióng lên rầm-rĩ, mà họ lại bất kham trước nhng đảm-phụ vừa mi thiết-lập. Không biết làm thế nào được, viên thượng-tá phải dùng lời dọa-dẫm:

-Nếu dân-chúng không chịu giải-tán , chính-phủ sẽ bắt mấy người đại-biểu mà giam lại.

Trong đám xin xâu lại có nhiều người đng pht dậy, xua tay múa chân mà nói:

- Cái đó là tùy lượng quan trên, mấy người ấy họ xin phần họ, chúng tôi xin phần chúng tôi; mỗi người đều có những nỗi khốn-khổ riêng biệt, có ai xin thay cho ai được.

Viên công-s Charles liền hạ lệnh tống giam ba vị đại-diện của dân-chúng để thị-uy. Hay tin ấy, họ lại càng la hét nhốn-nháo thêm lên và tỏ vẻ cương-quyết hơn lúc nào hết. Bực mình, viên công-s Charles phải ra đứng ngoài bao lơn tòa hành-chánh và truyền-phán một lần cuối cùng:

- Nếu dân-chúng không chịu giải-tán thì ba ngưi đại-diện của họ sẽ bị đày ra Lao-bảo.

Hồi bấy giờ, Côn-lôn và Lao-bảo là hai phối-sở độc-địa, rùng rợn nhất tại Việt-nam, thế mà lời đe-dọa của viên công-sứ vẫn không đem lại một hiệu-quả nào hết. Để giữ đúng li tuyên-b, vào buổi chiều ngày ấy, viên công-sứ Charles cho lính tập áp-tải ba vị đại-diện Lương-Châu, Trương-Hoành và Ha-Tạo ra Quảng-trị. Nghe tin ba vị lãnh-đạo của mình bị tù đày, dân-chúng lại càng phẩn-uất hơn. Không nhng họ không chịu rút lui mà lại còn tăng thêm dần dần. Các vùng thôn-quê đã bt đầu hưởng-ng phong-trào kháng sưu, lục-tục kéo đến.

Trước hết sĩ-dân hạt Điện-bàn tụ tập tại quận lỵ, bắt tri-phủ Trần-văn-Thông bỏ lên xe kéo, rồi quan lớn đi trước, quần-chúng chạy theo sau, mọi người đều nhắm tỉnh-lỵ Hội-an mà tiến nhanh. Trên đường đi, có viên thư-ký Cao-du-Minh va th hổn-hển, vừa theo sát chiếc xe kéo, thỉnh-thoảng lại cầm đùi ba ton gõ vào mt cá quan ln mà hỏi:

- Tri-phủ bị dân-chúng kiện tất cả mấy lần?

Quan lớn suy-nghĩ một chặp lâu như để nhớ  lại tất cả những hành-động của mình, ưc-lược lại cho đơn-giản, rồi mớấp-úng trả-lời:

- Tôi bị kiện ở phủ Thăng-bình là một; nay dân-chúng phủ Điện-bàn có đơn khiếu-nại một lần nữa là hai.

Thư-ký Cao-du-Minh nghe quan ln trả-lời xong, lại dùng đùi ba ton khẽ thêm một cái thật mạnh vào mắt cá vị tứ-dân phụ-mẫu mà hỏi tiếp:

- Tri-phủ ăn tiền của nhân-dân nhiều như thế thì bỏ vào chỗ nào cho hết?

Chẳng ngần-ngại, quan lớn lấy tay kéo vạt áo ba-ga đã sn loang-lổ nhiều nơi, đưa ra ngoài ánh sáng mà phân bua vi dân-chúng:

- Tôi vốn không có ý sách-nhiễu đồng-bào, nhưng ngt vì mẹ sp cháu nhà hay đam mê c bạc, nay tài-bàn, mai tứ-sc cho nên lúc túng-bấn có lạm-dụng lễ-vật một chút ít mà thôi.

Quan lớn va biện-bạch vừa giơ chéo áo lên thật cao để lộ hẳn cái bụng phệ có nhiều ngấn tròn trịa bao-bọc chung quanh y hệt như một cái nọng heo. Trông thấy như vậy, thư-ký Cao-du-Minh liền dùng đùi ba ton thọc vào chiếc lỗ rốn sâu hoáy, mà nói một cách hài-hước:

- Không ăn tiền của dân mà lại béo mum-múp như một tên Đổng-Trác.

Rồi thư-ký Cao-du-Minh dùng đùi ba ton gõ liên-tiếp vào mắt cá vị quan-trường kiểu-mẫu mà hỏi một lần chót:

- Từ rày về sau tri-phủ còn ăn tiền nữa hết?

Một quả đòn quá mạnh làm cho bị can đau-đớn phải thốt ra một tiếng yếu-đuối:

- Hết!

Thời may trong thi-gian tấn bi-kịch nầy xảy ra, viên lai-mục phủ Điện-bàn đã trốn thoát được chạy xuống báo-cáo với toà công-s. Đoàn biểu-tình va ti bến đò Phú-triêm, cách thành-phố Hội-an chừng hai cây-số thì gp đội lính tập ở dưới kéo lên. Viên chỉ-huy Pháp hô giải-tán và ra lệnh cho binh-sĩ bắn chỉ-thiên để thị-uy. Dân-chúng không chịu thối lui. Cuộc xô-xát xảy ra làm cho nhiều người bị thương, một số bị bắt giữ. Thừa lúc hai bên đương giao-chiến kịch-liệt với nhau, viên tri-phủ Điện-bàn chạy lẫn vào trong đám đông trốn-thoát được. Chỉ có hai tên nông-dân hoảng sợ, phải vứt chiếc áo rách và mo khoai trụng ở bên lề đường, toan lội qua sông nhưng ti na chng thì bị nước lôi cuốn đi mất. Chiều lại, dân-chúng vớt được xác hai người, đem lên chôn cất một cách trọng-thể. Khp mọi nơi, ai nấy cũng để tang-chế, khăn trng, áo xuống trôn y hệt như trong một ngày quốc-tang. Cuộc biểu-tình phải bị tan-rã, nhưng dân-chúng lại theo nhiều con đường khác, lẻn vào thị-trấn, rồi cứ thay phiên nhau kẻ về người mà tiếp-tục cuộc đấu-tranh.

Lúc bấy giờ, dân-chúng tụ-tập tại Hội-an đã quá đông-đảo, những nhà lãnh-đạo phong-trào mới ra chỉ-thị cho các phủ huyện, người chổ nào thì tụ-tập tại chổ ấy, không phải kéo đi xa như trước na. Tại phủ Tam-kỳ, dân-chúng thầm oán viên đề-đốc Trần-Tuệ, một vị quan lại tham-nhũng, thường hay bóc-lột và hành-hạ những người đi làm công-ích. Dân-chúng kéo ti phủ-lỵ, vây chặc các ngã ra vào, đòi bt viên đề-đốc Trần-Tuệ đem ra xét x. Thấy trình-trạng tr nên nguy-cấp, viên đại-lý Pháp tại Tam-kỳ phải đem lính ti giải-vây và đưa viên đề-đốc Trần-Tuệ về Hội-an. Đoàn quân áp-tải vừa mi ra khỏi phủ-lỵ thì đã bị dân-chúng bao-vây kín mít. Ở gia đám đông có tên Trùm- Thuyết, người xã Phước-li, đng lên hô-hào dân-chúng:

- Các anh em phải bắt giữ Trn-Tuệ lại cho tôi, có nghe không?

Dân-chúng đều dạ râng, muôn người như một. Viên đề-đốc Trần-Tuệ ngồi trên xe kéo, nghe dân-chúng đồng-thanh trả-lời như vậy, sợ quá hộc máu tươi ra mà chết. Trả thù xong, dân-chúng lại trở về tụ-họp chung quanh phủ-lỵ như cũ.

Tại Hòa-vang, có lãnh-binh Võ-Điền cũng hay bạc-đãi nhng người làm đường-sá. Dân-chúng nổi lên bạo-động, kéo tới bao-vây huyện-lỵ rồi phái người đi lùng bt Võ Điền, nhưng vị quan-lại ấy đã theo con đường xe la mà trốn về Đà-nng.

Tại Thăng-bình, có tri-phủ Lê-bá-Đảng, vừa mđược bổ-nhiệm, là một vị quan-trường mục-nát có tiếng trong tỉnh-hạt. Dân-chúng kéo tới hội-họp chung quanh tỉnh-lỵ, rồi bắt viên tri-phủ phải đi xin xâu vi mình. Vào lúc này, tòa công-s đã ra lệnh giới-nghiêm và phái lính-tập về canh giữ các vùng địa-phương. Hai bên xung-đột nhau. Kết-cuộc, viên tri-phủ được giải-thoát, về phía nhân-dân có một số người bị thương, vị lãnh-tụ là Hương-Quản bị bắt giải về thị-trấn.

Tại Duy-xuyên và Quế-sơn các nhà cầm-quyền không hiểm-ác, vì vậy dân-chúng không bạo-động, nhưng vẫn kéo về tụ họp tại quận-lỵ để hưởng-ng phong-trào và phản-đối chính-phủ.

Cuộc bạo-động đã lan dần từ thành-thị đến miền thôn-quê hẻo-lánh và cứ dng-dai mãi Quảng-nam cũng như trên toàn cõi Trung-Việt.

Mỗi ngày lại có thêm một số chiến-sĩ phải lên đường, lại có thêm những kẻ chân lấm tay bùn chạy sang nhà bên cạnh và nói với người láng-giềng:

- Nhờ bác lấy hộ cái búi tóc cho tôi tí.

Thế là người hàng-xóm lấy chiếc vung bằng đất, úp sơ-sài lên trên cái sọ, rồi lấy kéo vanh thật tròn mà nói một cách nhẹ-nhõm:

- Thôi ! t ba nay anh đã thuộc về phái Duy-tân. Vậy anh phải hành-động cho xứng vi cái danh-nghĩa ấy.

Muốn tiêu-diệt phong-trào xin xâu đang nổi lên khắp nơi, tổng-đốc Hồ-đắc-Trung phải xuống Hội-an để gặp viên công-s Charles, và nói mật với nhau:

- Cầm đầu vụ dân-biến này là bọn văn-thân quá-khích nhưng tu-trung chỉ có bọn Ông-ích-Đường Phong-lệ và Châu-thượng-Văn Hội-an là có liên-hệ trực-tiếp. Trước hết ta phải bắt hai tên phiến-loạn ấy giam lại thật kỹ. Kế tiếp theo đó, ta phải đưa bọn Nguyễn-Thành, Huỳnh-Thúc-Kháng, Phan-tây-Hồ ra an-trí ngoài Côn-đảo thì miền Trung-Việt nầy mới có thể yên được.

Viên công-s Charles đã thi-hành đúng theo kế-hoạch ấy. Bt hai nhà cách-mạng Ông-ích-Đường, Châu-thượng-Văn đem câu-lưu tại lao-xá Hội-an và lần-lượt đưa họ ra thẩm-vấn.

Nhà cách-mạng Ông-ích-Đường là người đầu tiên phải ra trước một phiên tòa thâu hẹp gồm có viên công-sứ Charles, viên tổng-đốc Hồ-đắc-Trung, và thượng-tá Nguyễn-Khái. Khi mọi người đã bước vào phòng họp, viên tổng-đốc Hồ-đắc-Trung bảo lính tập dẫn nhà cách-mạng Ông-ích-Đường ra đng trước vành móng nga mà hỏi:

- Mày có phải là kẻ chủ-mưu trong vụ kháng thuế này không?

Nhà cách-mạng Ông-ích-Đường trả-lời:

- Chính tôi là người đã xúi-giục dân-chúng làm loạn.

Viên tổng-đốc Hồ-đắc-Trung lại hỏi:

- Trong lúc hành-động này có bàn-bạc với tên Châu-thượng-Văn Hội-an không?

Nhà cách-mệnh Ông-ích-Đường suy-nghĩ một hồi lâu rồi đáp:

- Nhà cách-mệnh Châu-thượng-Văn chịu trách-nhiệm về tỉnh Quảng-nam, còn tôi chỉ là một người tha-hành công-vụ. Đáng lẻ tôi phải tham-khảo ý-kiến cấp trên, nhưng khi nào tôi quên bng đi thì thôi.

Viên tổng-đốc Hồ-đắc-Trung không hiểu ra sao cả, liền đưa tay chỉ chỉ một vị thanh-niên đang ngồi chồm-hỗm ở dưới đất mà hỏi tiếp:

- Mày có biết tên Ông-ích-Mật này là ai không?

Nhà cách-mệnh Ông-ích-Đường lc đầu và nói:

- Tôi không rõ.

Tổng-đốc Hồ-đắc-Trung bực-tc, liền đập vào bàn thật mạnh mà hỏi vặn:

- Tên này chính là em ruột của mày, mà sao mày lại nói không biết?

Nhà cách-mệnh Ông-ích-Đường nhìn vị thanh-niên một lần nữa, tc lưỡi một cái, rồi mới nói:

- Nó với tôi vốn thật là tình huynh-đệ với nhau, nhưng t khi còn bé nó hoang-đường, bỏ nhà trốn đi biệt-tăm biệt-tích. Nghe nói về sau, nó theo bợ đít bọn Pháp để kiếm ăn và làm nên s-nghiệp. Ngày nay nó trở về, tôi không có thể nhớ mt nó được.

Tổng-đốc Hồ-đắc-Trung tức sôi lên vì nhng li châm-biếm ấy, liền ghép nhà cách-mệnh Ông-ích-Đường vào tội âm-mưu khỉ-ngụy. Hai ngày sau đem ra trảm-quyết tại chợ Túy-loan.

Tiếp theo đó người ta lại dẫn nhà cách-mệnh Châu-thượng-Văn vào phòng họp, giao cho các vị quan tòa phỏng-vấn. Viên tống đốc Hồ-đắc-Trung bảo lính tập mở chiếc xiềng số tám cho bị can, rồi bắt đầu hỏi:

- Mày có phải là người tổ-chức vụ kháng-sưu tại Quảng-nam không?

Nhà cách-mệnh Châu-thượng-Văn trả-lời một cách thẳng-thng:

- Chính tôi đã ngấm-ngầm xúi-giục dân-chúng nổi-loạn, và bí-mật đưa các nhà chính-trị sang Nhật-bản, ngoài ra không một ai có quyền tham-dự vào cả.

Viên thông-đốc Hồ-đắc-Trung không thể nào tin những li thú-nhận ấy, liền quay về phía viên công-sứ Charles mà nói rất khẽ:

- Ở đây chúng ta có một tên phiến-loạn vừa li hại vừa có uy-tín trong dân-chúng. Tôi thiết-tưởng trong trường-hp nầy chúng ta không nên dùng những biện-pháp cứng-rn, mà phải giao bị can cho tòa-án Nam-triều xét-xử.

Viên công-s Charles gật đầu hỏi thêm:

-Nhưng tôi nghe nói bị can sẽ nhịn ăn để phản-đối việc đàn-áp phong-trào xin xâu, ngài nghĩ như thế nào?

Tổng-đốc Hồ-đắc-Trung mĩm cười một cách tế-nhị trả-lời:

- Nếu vạn-nhứt người ta dùng lối bất-bạo-động để tranh-đấu, chúng ta sẽ tuyên-án tức-khc và sẽ đưa bị-can ra ngoài Lao-bảo, như vậy là êm chuyện.

Viên công-sứ Charles đng dậy nắm chc lấy bàn tay viên tổng-đốc Hồ-đắc-Trung mà nói thật chậm rãi:

- Ngài là một vị thủ-hiến không những khôn-ngoan mà lại còn sáng-suốt nữa. Tôi không bao-gi quên nhng công-việc ngài đã làm cho chính-phủ bảo-hộ; tôi sẽ đề-bạt cho ngài giữ một chức-vị quan-trọng hơn.

Chiều bữa ấy nhà cách-mệnh Châu-thượng-Văn bt đầu tuyệt-thực trong lao-xá, mỗi ngày chỉ uống cầm chừng một vài hớp nước. Viên công-s Charles cho áp-tải bị can lên giam-giữ tại Vĩnh-điện để chờ tuyên-án nhưng sau hai tuần nhật lại đưa về tạm gởi tại lao-xá Hội-an. Lúc bấy giờ bị can đã thay đổi hoàn toàn: thân hình đã xóp ve, hai con mt đã sâu-hom, hơi th chỉ còn thoi-thóp. Tiến-sĩ Huỳnh-thúc-Kháng liền  đến bên giường bệnh mà gọi rất khẽ:

-Châu tiên-sinh! Châu tiên-sinh! Tiên-sinh có biết tôi là ai không?

Bị can không có thể trông thấy được nhưng vẫn nghe rõ giọng nói, liền bảo tiến-sĩ Huỳnh-thúc-Kháng cúi sát xuống mà rỉ vào tai:

- Huỳnh đại-ca! Huỳnh đại-ca! tôi làm cái việc dễ, các đồng-chí phải cố-gắng làm lấy cái việc khó.

Tất cả các nhà Duy-tân hiện có mặt trong ngục-thất đều phải rơi lệ. Chính trong lúc ấy tiếng còi báo-động vang dậy khắp nơi. Viên quản-cơ bận lễ-phục đã ra đng trước nhà ga, đương tụ-tập những phạm-nhân đi Lao-bảo. Theo lệnh cấp trên, bọn lính áp-tải chạy sồng-sộc vào trong phòng giam, khiêng bị can đem bỏ trên xe hoả, rồi chiếc đầu máy lại vận-chuyển, nhắm dãy Ngũ-hành-sơn mà lao vun-vút.

Vị lãnh-tụ phong-trào xin xâu ra tới Thuận-hóa thì tt th, lưu lại cho dân-tộc Việt-nam một tấm gương hy-sinh kiên-cường, cho thánh Cam-Địa của Ấn- độ về sau này một phương-thc đấu-tranh mầu-nhiệm.

Có nhiều nhà cách-mệnh không trực-tiếp lãnh-đạo vụ dân-biến cũng bị đàn-áp một cách tàn-nhẫn. Kẽ thì bị xử t-hình, người thì bị phát-vãng ra Côn-đảo cùng một lúc với hầu hết các bậc văn-thân trong toàn quốc. Trước hết, tiến-sĩ Trần-qúy-Cáp, một nhân-vật quan-yếu trong phong-trào Duy-tân, phải lên đoạn-đầu-đài tại tỉnh Khánh-hòa và bị tên bố-chánh Phan-bá-Quát ra lệnh chém ngang lưng, một việc chưa bao-gi thấy trong lịch-sữ nhân-loại. Nhà cách-mệnh Phan-tây-Hồ bị bắt trong khi diễn-thuyết tại trường Đông-kinh nghĩa-thục và bị đưa về giam-giữ tại lao-xá Thừa-thiên.

Hng ngày, các nhà văn-thân phải đi làm tạp-dịch trong thành-phố: nhà chí-sĩ Phan-tây-Hồ phải đẩy chiếc xe bò; học-sinh Lê-đình-Mộng, người cầm đầu vụ dân-biến tại thủ-đô, phải cầm chiếc sọt đi nhc lá vàng hai bên lề đường, thái-độ vẫn thản-nhiên, cử-chỉ vẫn ôn-tồn như không có việc gì xảy ra. Học-giả Nguyễn-lộ-Trạch, một hôm đi qua kinh-sư, liền trao cho hai phạm-nhân một gói tặng vật và đọc hai câu liễn-đối như sau:


Đc-thế Dy-Ngô tù dĩ-tướng;

Thất-thời Cơ-t thánh vi-nô.


Nhà cách-mệnh Phan-tây-Hồ mĩm-cười, lấy tay vỗ nhè-nhẹ vào con bò vàng rồi theo hai bánh xe lịch-sử mà tr về ngục-thất. Một tuần-lễ về sau, Ông phải ra trước một phiên-tòa hổn-hợp và bị ghép vào tội xúi dân làm loạn, Ông cứ khng-khái trả-lời:

- Các ngài va ngồi trên đầu nhân-dân, vừa ăn bổng-lộc của nhà nước, người nhiều thì năm ba trăm, kẻ ít thì bảy tám chục, lương tiền ấy không phải là máu-mủ của đồng-bào hay sao? Thế mà các ngài cứ điềm-nhiên tọa-hưởng, không lo vì nhân-dân m đường sinh-kế, không tính vì đồng-bào mưu-cầu sự li-ích, khiến cho bọn người cùng-vô-s-xuất không biết dựa vào đâu mà nộp sưu-thuế, phải lấy việc đi van-nài ca công làm hạ-sách. Như vậy vụ dân-biến ở Trung-kỳ là cái tội chung của người Pháp và chính-phủ Nam-triều. Các ngài không biết ăn-năn thì ch, lại còn tìm cách vu-cáo cho kẻ khác, thì còn mt mũi nào mà ra ngồi chênh-vênh tại chỗ pháp-đình nầy?

Các vị quan-tòa tc lắm, muốn kết án tử-hình bị can cho hả-dạ, nhưng vì có hội bảo-trợ nhân-quyền can-thiệp, họ phải kêu án xử-t phát-phối, ngộ-xá bất nguyên. Chẳng bao lâu nhà cách-mệnh Phan-tây-Hồ phải lên đường vào phối-sở, lúc ra khỏi cửa đông-nam mi biết là vào Côn-đảo, liền khẩu-chiếm một bài "Cảm-tác" như sau:


Luy luy thiết-tỏa xuất đô-môn;

Khng-khái bi ca thiệt thượng tồn.

Quốc thổ trầm luân dân tộc tụy;

Nam-nhi hà-sự phạ Côn-lôn?


Hai nhà cách-mệnh Nguyễn-Thành và Huỳnh-thúc-Kháng bị bắt tại Quảng-nam, bị giải về Hội-an rồi đem lên giam-gi tại lao-xá Vĩnh-điện. Chính-phủ Nam-triều phải mở ngay một phiên tòa đc-biệt để xét-xứ hai bị can và kêu án: nhà cách-mệnh Nguyễn-Thành phải bị chín năm khổ sai; còn nhà cách-mệnh Huỳnh-thúc-Kháng phải bị khổ-sai chung-thân, ngộ-xá bất nguyên. Nghe tin hai nhà cách-mệnh phải khởi-hành vào Côn-đảo, các đồng-chí trong lao-xá có tổ-chức một bữa cơm thân-mật để bày tỏ mối tình khng-khít vi nhau. Người ca-n vô-danh cũng có mt trong bữa cơm ấy, thừa lúc mọi người không để ý, bèn tiến về phía nhà cách-mệnh Nguyễn-Thành mà hỏi rất khẽ:

- Trong thời-kỳ phải đi vng, tiên-sinh có d-trù một nhân-vật nào để thay thế cho tiên-sinh hay không?

Nhà cách-mệnh Nguyễn-Thành liền đưa tay móc túi áo, lấy ra một phong-thư có niêm-dán cẩn-thận, trao cho người ca nữ mà nói một cách chậm-rãi, dn tng tiếng:

- Tạm thời ông Thái-Phiên phải đảm-nhận mọi công việc, chờ khi nào ông Trần-cao-Vân trở về thì hai nhân-vật ấy sẽ hợp-tác vi nhau.

Người ca-n vô-danh gật đầu, dấu kỹ bức thư vào người rồi ngồi tiếp tục dự bữa cơm như cũ. Nhơn lúc cãm-hng, nhà cách-mệnh Huỳnh-thúc-Kháng có đọc một bài "Lưu giản" như sau:


Trăng trên tri còn có khi tròn khi khuyết,

Người đi sao khỏi tiết gian-nan?

Đấng trượng-phu, tùy ngộ như an,

Tố hoạn-nạn, phải hoành hồ hoạn-nạn.

Tiền lộ định tri thiên hữu nhãn,

Thâm tiêu ưng ha mộng hoàn gia.

Bấy nhiêu năm, tuổi vẫn chưa già,

Kìa Tán-lĩnh, nọ Nhị-hà,

Non sông ấy phải chờ ta thêu dệt.

Còn tán-tụ chẳng qua là tiểu-biệt,

Ngựa tái ông họa phúc biết về đâu?

Nếu một mai con tạo khéo cơ-cầu,

Thảy bốn bể cũng trong bầu trời đất cả.

Ư bách niên trung tu hu ngã,

Dẫu cho núi sập, biển lồi, trời tan, đất rã,

Tấm lòng vàng tạc đá vẫn không mòn.

Trăng kia khuyết đó lại tròn.