Trận Dương-yên


Ngày mồng ba tháng mười theo âm-lich là một ngày mưa lụt vì dân chúng cho rằng vào ngày ấy "ông có tha, bà cũng không tha". Vào khoảng đầu tháng mười năm Ất-dậu, quả thật trời mưa dầm-dề làm cho quang-cảnh miền sơn-cước trở nên buồn-bã. Tiến-sĩ Trần-văn-Dư ngồi hết giờ này đến giờ khác trong một bức thành mỗi lúc một thâu hẹp dần vì sương chiều xuống nặng hột, bao-trùm muôn vật trong một lớp áo tang. Ông để cho mấy vết hằn sâu rộng trên da trán khép chặc rồi lại giản ra. Những cuộc thất-trận liên-tiếp tại Phú-cường, Ngọc-kinh, Vĩnh-điện và nhất là tại Trà-kiệu làm cho ông phải nghĩ-ngợi. Ông tự hỏi "ta nên tiến hay nên thối" và không thể nào tìm ra câu trả-lời.

Chính trong lúc ấy, ở ngoài kinh-đô, thiếu-tướng Bờ-ruy-Dôm đương ngồi trong phòng giấy và cũng đương băn-khoăn về một vấn-đề nan-giải:

-Tình-hình Quảng-nam lại phức-tạp thêm. Ta làm thế nào mà vãn-hồi trật-tự?

Ông vẫn biết rỏ những thắng-lợi vừa mới đạt được. Ngày mười một tháng chín năm nay, đi tuần-trấp ở Qui-nhơn về, ông có ghé lại cửa bể Đà-nẳng và có nghe rỏ mồn-một những loạt súng nổ tại nhà chung Phước-thượng. Cuộc chiến-đấu anh-dũng của tín-đồ công-giáo tại Trà-kiệu vẫn đem lại cho ông ít nhiều tin-tưởng, nhưng con đường bình-trị vẫn còn xa lơ xa lắc, ngặt-nghèo hiểm-trở. Hết trận này văn-thân lại bày trận khác, họ đâu có chịu khoanh tay đầu-hàng. Thở một hơi dài, ông dùng hai nắm tay đập thật mạnh lên đống hồ-sơ bỏ ngổn-ngang mà than-thở:

- Người ta không bao giờ thôi với chiến-tranh!

Trung-tá Bét-Nô từ phòng giấy bên cạnh, nghe tiếng động vội-vả chạy sang:

- Thiếu-tướng có việc gì cần xin nói cho tôi rõ?

Thiếu-tướng ngúc đầu chỉ cái ghế trống bên cạnh cho Trung-tá ngồi, nhiên-hậu mới bắt đầu câu chuyện:

- Ngài phụ-trách về Quảng-nam, Ngài có kế-hoạch gì để bình-định xứ ấy không?

Trung-tá Bét-Nô suy-nghĩ một hồi lâu mới dám trả-lời:

-Nếu tôi nhớ không sai, ngày mười một tháng tám vừa rồi, chúng ta chiếm-đoạt tỉnh-thành và còn giữ thường-xuyên tại đấy hai tiểu-đội thủy-lục-quân. Tiếp theo đó, vào khoảng cuối tháng tám, chính-phủ Nam-triều lại phái Châu-đình-Kế vào nhận chức Tuần-vũ Quảng-nam để tổ-chức lại nền hành-chánh tạm-thời bị gián-đoạn. Từ ấy đến nay công việc không thể tiến-triển được là vì thiếu quân-số, lực-lượng của chúng ta ở Vĩnh-điện phải bị lâm vào tình-trạng bất-động. Phương chi sự hiện-diện của tiến-sĩ Trần-văn-Dư tại vùng sơn-cước và sự tồn-tại của nha sơn-phòng Dương-yên tạo động-cơ cho văn-thân mỗi ngày mỗi làm càng, làm dữ. Hồi Thống-tướng Cua-Xy còn lưu-trú tại kinh-thành, ngài đã nói với tôi rất nhiều về vấn-đề ấy. Ngày mười chín tháng chín, ngài đi dự lể tân-tôn vua Đồng-Khánh tại điện Thái-hòa, ngài có gọi riêng tôi mà nói:

- Khi nào nha sơn-phòng và tiến-sĩ Trần-văn-Dư còn đứng vững thì chúng ta không có thể ngồi yên được.

Ngày hai mươi tháng chín, ngài trở ra Bắc-việt và gọi tôi một lần nữa để căn-dặn tỉ-mỉ :

- Việc tiêu-hủy hai pháo-đài tại Dương-yên và Trà-my có phần khó-khăn thật đấy vì đường sá xa-xôi, hiểm-trở, binh-lực của chúng ta chưa được dồi-dào; nhưng tôi thiết-tưởng với sự tận-tâm của đoàn quân Bắc-phi, chúng ta có thể vượt qua mọi trở ngại.

Rồi ngài lại vổ vai tôi mà khuyến-khích:

- Lúc nào cũng vậy, chúng ta cũng phải tin rằng chữ bất-khả không có trong ngôn-ngữ của người Pháp.

Trung-tá Bét-Nô trình-bày vừa xong thì thiếu-tướng Bờ-ruy-Dôm đã tiến lại gần và nói khẽ:

-Tôi sẽ giúp mọi phương-tiện để mở cuộc hành-binh thứ hai. Ngài có vui-lòng đm-nhận công việc ấy không?

Trung-tá Bét-Nô trả-lời đanh-thép:

-Tôi xin vâng lệnh!

Ngày mười hai tháng mười một năm 1885, thiếu-tá Các-Đô khỉ-hành từ Huế với một trăm lẻ một binh-sĩ thuộc về trung-đội lạp-binh thứ nhất đặt dưới quyền chỉ-huy của đại-úy Đa-ni-en và thiếu-úy Bút-tờ-phờ-roa. Họ nhổ neo tại cửa bể Thuận-an, vượt phá Cầu-hai, đổ-bộ lên Lăng-cô, rồi len-lỏi qua đèo Hải-vân. Mùa mưa đương hoành-hành, đường sá lầy-lội, hư-hỏng nhiều nơi, phải mất một tuần lễ h mới vào tới Đà-nẳng. Con đường quốc-lộ không thể dùng được, phải thuê mười bốn chiếc ghe mành để vào Hội-an. Theo con lạch Thanh-hà, họ đi thẳng lên Vĩnh-điện. Tuần-vũ Châu- đình-Kế chưa có thể cung-cấp đủ số ghe thuyền và phu-phen cần-thiết cho việc chuyên-chở, toán quân phải ở lại tỉnh-thành một thời gian khá lâu. Ngày ba mươi tháng mười một, cuộc hành-trình mới được tiếp-tục. Hai binh-sĩ đã chết ngoài khơi vì chứng dịch-tả, bữa nay đoàn quân viễn-chinh gồm có chín mươi chín người thuộc trung-đội Đa-ni-en, sáu mươi tám người thuộc hai đội thủy-lục-quân đóng tại Vĩnh-điện và ba chục lính Việt-nam vừa mới chiêu-mộ dùng làm hướng-đạo. Họ đi bằng đường thủy trên bốn chục chiếc ghe mành do chính-quyền địa-phương cung-cấp, noi theo con sông Trường-giang. Số phu khuân-vác gồm có một trăm hai mươi người, đi theo con đường thiên-lý. Ngày mồng hai tháng chạp, vào lúc bảy gi sáng, họ tới vạn Tam-kỳ, huyện Hà-đông. Thiếu-tá Các-Đô lưu lại ở đây một phân-đội để giữ ghe thuyền, săn-sóc cho những binh-sĩ bị đau ốm, rồi hiệp với số phu-phen, theo con đường quốc-lộ, tiến về cánh đồng Lớn. Ngày mồng ba tháng chạp, họ tới huyện-lỵ Tiên-phước, gặp lúc trời đương mưa lụt, đoàn công-binh phải lo bắc một cái cầu tre qua con sông Bà-tự. Ngày mồng bốn mới lên đường, vượt qua làng Thanh-bình, băng qua đèo Liêu, qua khỏi dốc họ trông thấy ngay thành-trì nằm lẩn-khuất trong đám sương chiều. Con đường dẫn vào ly-sở đã bị văn-thân lấp kín, họ phải noi theo một khúc tiểu-lộ mới có thể tiến lại gần. Đồn Dương-yên nằm trên một khoảnh đất rộng rải, mỗi cạnh dài tới ba trăm năm chục thước tây. Chung quanh bức thành xây bằng đá rồng có một cái hào sâu. Trên chiếc bao lơn có nhiều lổ châu-mai, nhiều ụ súng đại-bác. Núp sau chiến lũy, người ta có thể chống-cự được nhiều ngày. Tuy vậy, quân văn-thân đã chạy trốn một cách gấp rút bỏ lại ngổn-ngang trong đồn một số quân-nhu gồm có một trăm năm chục chiếc súng trường kiểu xưa, sáu chiếc súng thần-công, năm trăm gươm-giáo, một ngàn năm trăm quan tiền, một số pháo lói chưa đốt và nhiều bao gạo, bao thuốc nổ... Thiếu-úy Bút-tờ-phờ-roa cho lính phá-hủy tất cả những vũ-khí đã tìm được, lấy sắt chèn vào mấy khẩu súng đại-bác, rồi mới phóng-hỏa tiêu-diệt xóm-làng, đồn trại. Ngọn lửa cháy ròng-rã nửa ngày một đêm làm cho dân-chúng miền sơn-cước phải một phen khiếp-sợ.

Hạ xong thành Dương-yên, trời đã nửa chiều. Thiếu-tá Các-Đô bắt quân-lính đăng-trình ngay tức-khắc. Họ phải vượt qua năm khúc sông bị nước ngập tới bờ, phải đập tan một cái chiến-lũy bằng tre mới có thể vào làng Trà-my được. Tới nơi họ cũng chỉ thấy một cái đồn bỏ trống nằm vắng teo trên tả ngạn sông Tranh. Thành nầy cũng làm bằng đá ong, cũng có hào sâu lũy rộng, cũng bị ngự chế bởi những chiếc vọng-lâu cao vòi-vọi, nhưng mỗi cạnh chỉ dài chừng một trăm năm chục thước tây mà thôi. Đi vào bên trong, người ta cũng thâu-hồi được một số quân-trang quân-dụng: mười lăm chiếc súng trường, hai mươi sáu chiếc súng đại-bác, năm trăm tạ gạo và nhiều bao thuốc nổ...

Thiếu-úy Bút-tơ-phờ-roa lại phóng hỏa đốt cả thành-trì miếu-vũ. Sau một đêm sống giữa chốn thâm-sơn cùng-cốc với những bầy heo rừng, bầy cọp gấm, ngày mồng năm tháng chạp năm 1885, người Pháp quay gót trở về tỉnh-lỵ.

Cuộc tấn-tiêu kéo dài non một tháng mới chấm dứt được.