Tổ-chức tấn-công quân Pháp


Một khi đã tảo-thanh hậu-phương, ổn-định xong nội-bộ, ban tham-mưu Nghĩa-hội phải nghĩ đến việc tổng-phản-công. Vào thượng-tuần tháng hai năm đinh-hi, thương-biện Phạm-trọng-Thảng, người phụ trách khu Nhàn-điền Phước-sơn được triệu-tập về mở kho tiền ở làng An-tây, nm ngay bên cạnh đồng ruộng Hớp, chỗ khe Kiểm và con sông Trầu gặp nhau, để chi-tiêu về việc chiến-tranh. Lính Mọi vừa mi tuyển-dụng trong những vùng Trà-my, Bến-hiên, An-điềm và gần hơn, trong những làng Cĩng-vang, Bà-Xá, Cà-doạt, Tí, Sé kéo về tụ-tập đông-đảo tại ngôi đình làng An-tâyMỗi người được phát năm đồng tiền kẽm và được thết-đãi linh-đình vi thịt trâu, thịt bò nấu xáo, cá-mòi dầu, cá mòi ranh xc ra tng khúc nhỏ ăn sống. Sau mỗi bữa tiệc, lính mọi bôi những chất dầu, chất mỡ lên mái tóc rồi hoan-hỉ  nhảy múa. Sm hôm sau chúng lên đường làm quân tiên-phong, nghĩa-binh lục-tục theo sau.

Vừa ti Trảng-Chuồi, cách đồn Hà-lam chừng non hai cây số, quân tiên-phong gặp một toán quân Ả-rập đương cm trại ở gia bưng-biền. Lính Pháp nổ súng trước, làm cho lính thượng-du hoảng-sợ bỏ chiến-trường rút lui một cách hỗn-loạn, vừa tẩu-thoát vừa hô thật to: "Mẹ chạy! Mẹ chạy!". Ban chỉ-huy Nghĩa-binh vừa mi đến nơi, nghe thấy như vậy, cũng phân-tán đi tr về, không giao-chiến. Cuộc tấn-công vào đồn Hà-lam thất-bại.

Tuy vậy, mấy ngày sau, dân-chúng ở nhng vùng thôn-quê hẻo-lánh tưởng trận đánh còn kéo dài, m-h mài gươm giũa vuốt dưới ánh trăng, rồi vũ-trang với nhng khí-giới thô-sơ như ống thụt bằng tre lồ-ồ chứa đầy ớt chuột, ớt chỉ-thiên, mũ xương rồng hòa vi nước lạnh. Họ vội-vả lên đường để tiếp-chiến trong khi gà rừng trên đầu non va gáy sáng. Thấy họ cầm vũ-khí ở trên tay, đám tàn quân chận lại hỏi:

- Các anh đi đâu đấy ?

Họ trả lời vi một giọng đầy cương-quyết :

- Đi đánh bọn Tây-phương.

Họ hy-vọng sẽ xông vào trận-địa, sẽ bắn cho quân-thù phải điếc tai, mờ mt. Nhiên-hậu họ sẽ lấy dao rạch bụng, lấy gươm cht đầu, sẽ giết cho hết những giống sài-lang rồi mới chịu tr về ẩn-náu dưới lũy tre xanh, cày sâu cuốc bẩm. Họ vừa mi đến nơi thì cuộc giao-tranh đã bế-mạc.

Tên Trần Xịu, người làng Hóa-quê, huyện Quế-sơn cũng d trận ấy. Hắn cũng theo bọn lính thượng-du để rút lui về hậu-phương và thi may, qua khỏi cầu ông Triệu, lại nht được một cái thủ-cấp còn nguyên vẹn. Hắn lấy một sợi mây bên đường xâu vào đầu-lâu thật chặc, rồi mang đi tòng-tơn y hệt như cái đầu heo vừa mi tậu ở trong một tiệm bảy-đáp. Về tới ch Việt-an, hắn vào trong một cái quán tranh ngồi nghỉ một giây lát. Một chốc sau, một bọn lính đoàn-kiết từ phương xa đi ti cũng dừng chân lại để uống nước chè, ăn sáng. Nhìn kỹ thấy họ khiêng những cái giỏ tre to lớn, có cha nhng cái thủ-cấp y hệt như cái hắn còn nm cht trên tay, hn tiến lại gần hỏi chuyện:

- Các anh lấy ở đâu mà được nhiều như thế?

Bọn lính đoàn-kiết giơ chân khoèo tấm bao tời lót bên trong chiếc giỏ cho bày những cái đầu người ra, cái thì trn mt, nhăn răng, cái thì nhm thiêm-thiếp như va mi bị thôi-miên, rồi trả-lời:

- Các phủ huyện đem về nạp ông hội, ông hội lại bảo khiêng lên nộp tỉnh, nạp ông Hường, còn đâu mà có thì tụi tôi không biết được.

Hắn muốn hỏi thêm về lại-lịch, chức-tước ông Hội hắn mi nghe lần đầu, nhưng lại thôi ngay vì nghĩ thầm trong bụng: "có lẽ đây là ông án Hổ Phan-bá-Phiến, nhân-vật thứ hai trong Nghĩa-hội, hiện đương đồn-trú tại Phú-lâm, huyện Tiên-phước. Ông Hường coi về miền bắc, t Việt-an trở ra, còn ông Hội từ Việt-an trở vào nam. Hn thầm nghĩ rằng địa-phương người ta cht đầu bọn trộm-cướp và nhng người dân theo Pháp vì s hải, để đem về tỉnh-lỵ lãnh thưng. Ý-nghĩ ấy làm hắn yên-tâm nên lặng-lẽ ra đi. Khi về đến ch Phú-bình, hn ghé thăm một người quen và nói một câu thân-mật:

- Tôi biết anh vẽ khéo lắm, nh anh sa giùm cái đầu lâu nầy cho tôi một tí.

Người họa-sĩ hỏi:

- Chú muốn làm cho ra Tây đen hay Tây trng.

Hắn dứt-khoát trả-lời  :

- Tây chi cũng được miễn là chiều nay tôi đem vào tỉnh-lỵ, nhận cho được năm quan tiền, tôi sẽ chia cho anh bớt phân na.

Ngồi chờ hồi lâu, khi mặt tri đã tăt hn sau hòn ông Bộn, chim-chóc đã bay v rừng, hn mi t-giả ngôi nhà tranh xiêu-vẹo, xách chiếc thủ-cấp đã biến-dạng, ra đi trong đêm tối. Gặvài người quen biết, hắn dng lại, nói bông đùa vài câu cho khỏi mệt, rồi thận-trọng căn-dn: "Mai anh nh sang nhà tôi có việc, chúng ta sẽ đánh chén một bữa".

Niềm vui cũng có thi-hạn, rạng ngày mai, hắn vào chầu-chực tại tỉnh-lỵ để lãnh phần-thưởng thì lại không gặp nhân-viên tại nhiệm-sở.

Thấy hắn c lui lui ti ti ngoài hiên, một tên lính đoàn-kiết có vẻ thông- thạo, đến nhìn kỹ một chặp rồi mỉa-mai:

- Vẻ râu ria như thế này thì lộ mất, dối ai được!

Không bng lòng với nhận-xét ấy, hắn càu-nhàu trả-lời:

- Mấy dạo trước tôi thấy người ta lấy bồ hóng bôi nhem-nhuốc sơ-sài trên môi, trên cm mà vẫn có năm quan tiền thưởng, sao bây gì anh lại muốn làm khó dễ với tôi như thế?

Nghe hắn kỳ-kèo, tên lính đoàn-kiết cũng bật cười cúi xuống nói nhỏ với hn, vì lúc ấy có người vừa đi ngang qua:

- Anh dại lắm, muốn làm thế nào cũng được, nhưng phải có tay trong tay ngoài. Việc này mà lộ ra thì anh sẽ chết! phải liệu chừng đấy.

Hắn không chịu thua, cứ đng ch cho ti trưa ngày tối buổi mà vẫn không được lợi-ích gì hết.

Bữa ấy ở tỉnh-lỵ, người ta còn mc lo đối-phó với nhng cuộc tảo-thanh của địch sau vụ tấn-công hụt vào đồn Hà-lam. Lính Pháp kéo vào đóng tại vạn Tam-kỳ rồi từ căn-c đã thiết-lập tại Hà-lam, họ mở một cuộc hành-binh rộng lớn trong hai hạt Thăng-bình và Quế-sơn. Bắt dân-chúng đi trước để làm bình-phong, quân Pháp t t tiến theo sau. Tới đâu họ cũng bắn phá tan-tành, tàn-sát đồng-bào, hãm-hiếp đàn-bà con gái. Bọn lưu-manh, bọn du-thủ du-thực  các ch đi theo làm tiên-phong lại thừa-cơ cướp-bóc, vơ-vét tài-sản của những kẻ giàu-có, họ khuân cả cái chày, cái cối làm cho dân-chúng miền sơn-cước một phen khốn-đốn. Mỗi lần có làn sóng của lính Bắc-phi, lính lê-dương tràn qua như vậy thì tất cả vàng ngọc châu báu ở miền núi lại theo thủy-triều mà rút về miền duyên-hải. Dân-chúng ta-thán không thể nào tả xiếc.

Sau một vài lần càn quét để dò đường sá và th-thách lc-lượng đối-phương, vào hạ-tuần tháng hai năm đinh-hi, lính Pháp mới lên chiếm chợ Việt-an, một đầu mối giao-thông quan-trọng của những con đường tỉnh-lộ đi về những hạt Quế-sơn, Thăng-bình, Tiên-phước.

H đóng quân tại ngôi nhà gạch của bà Năm, bên kia cầu bà Quốc, cách chợ Việt-an chừng hai cây số về phía nam. Lúc trước ngôi nhà nầy nằm trên b sông Trầu, mặt trước ngó ra đồng-bằng, mặt sau da vào sườn núi, đã từng được dùng làm trú-s cho nghĩa-quân của tán-tướng Nguyễn-Duật, vị tướng-lãnh bị thất trận và chết tại Quảng-ngãi. Ngôi nhà nầy bị bỏ trống một thời-gian. Bây gi, lính Pháp lo chỉnh-đốn, tu-bổ lại cho kiên-cố hơn, khoét hông, đục tường để biến nó thành một cái pháo-đài vng-chc. Từ những lỗ châu-mai vừa mi tạo ra, người Pháp cho đt nhiều khẩu súng trường, súng đại-bác, họng súng chỉa ra phía ngoài, y hệt những si lông trên thân mình một con nhím. Chung quanh ngôi vườn um-tùm, rộng rãi, họ còn đp nhiều ụ đất, thiết-lập nhiều lô-cốt để phòng khi bị tấn-công bất-ngờ.

ngay bên cạnh nhà bà Năm, có một cái lò rèn bng tranh xây-dng t lâu. Người th cả vừa mi tản-cư lên có mấy ngày lại bị thổ-tả chết. Ban tham-mưu Nghĩa-hội bèn lợi-dụng cơ-hội hiếm-hoi nầy để mở một cuộc tấn-công qui-mô nhắm tiêu-diệt cứ-điểm nầy của địch.

Bây giờ là ngày mười chín tháng ba năm đinh-hi. Khi gia-đình khổ-chủ đương làm lễ xuất-quan thì bất-thình-lình ngôi nhà tranh có xây lò-rèn lại phát hỏa. Khi dấu-hiệu của ngọn lửa nổi lên cao, tiếng trống-chầu được gióng lên inh-ỏi, trong khoảnh-khắc, t trong núi, t làng Hội-tường, làng Phú-cốc, từ ch Việt-an, Nghĩa-binh đông ti năm sáu ngàn người ồ-ạt xông tới để công-hãm đồn trại. Một toán quân cảm-t, ẩn núp t trước trong nhng bụi rậm, đã vượt qua sông Trầu ở phía trên cầu bà Quấc, tiến sát nhng hào-lũy bên địch. Theo sau họ, các đoàn chủ-lực của Nghĩa-binh cũng kéo đến và sẵn-sàng tiếp-chiến. Bọn Pháp phản-ứng tức-thì và núp trong nhà, bắn ra không ngớt. Toán quân xung-phong thứ nhất, vừa mi phá được rào-giậu, tiến vào trong ngôi vườn chng năm ba thước thì bị làn đạn bằn ra như mưa, càn-quét hết tất cả. Tiếng hô xung-phong lại vang dậy khắp nơi. Một toán giản-binh thứ haim-htiến lên, nhưng cũng bị tiêu-diệt nốt. Toán thứ ba, th tư cũng lâm vào hoàn-cảnh tương-t. các mt khác, nghĩa-binh cũng cố-gắng vượt qua rào lũy, nhưng đều bị bọn Pháp bắn chết quá nhiều, phải tháo lui. Bao nhiêu kiên-trì, dũng-cảm, bao nhiêu hy-sinh đều không đem lại kết-qủa. Bọn lính Bắc-Phi vẫn nấp yên-ổn bên trong thành-lũy, tiếp-tục bắn ra như mưa. Sau ba giờ kịch-chiến, nghĩa-binh đã bị tổn-thất q nặng-n, hàng trăm t-thi la-liệt trên mt đất, hàng ngàn người bị thương còn nằm kêu gào trong nhng khóm vườn, trong hào-lũy. Biết tình-thế không thể cứu-vãn được na, tán-tướng Nguyễn-Thanh, chỉ-huy mặt-trận nầy phải ra lệnh thối binh. Mãi ti xế chiều ngày ấy cuộc chiến-tranh mới dứt hn. Đây là trận đánh ln nhất và chuẩn-bị công-phu nhất từ khi Nghĩa-hội mới thành-lập. Thất-bại đau-đn nầy không khỏi gieo hoang-mang rất lớn trong dân-chúng. Để trấn-an lòng người, một tuần lễ sau, ban đêm ban tham-mưu Nghĩa-hội kéo đến bãi chiến-trường, lập đàn trên b sông Trầu làm lễ cầu-siêu cho những t-sĩ.

Người ta còn tương-truyền rằng, khi một vị văn-thân đng lên đọc bài văn-tế sau nầy của cử-nhơn Phạm-đạo-Mẫn, người làng An-tráng, phủ Thăng-bình, thì hai bên b sông, trên sườn núi, trong cánh đồng lại ng-vng tiếng ma kêu quỉ khóc làm cho ai nấy cũng phải khiếp sợ.


Hỡi ôi !

Gan vàng, phận bạc, bao phen người trung-nghĩa đoản-tu;

Bể thẳm, non xanh mấy độ cuộc tuần-hoàn thay đổi.

Nhớ linh xưa:

Gp thu Bình-tây;

Ghét loài phản-bội.

Dân thì thúc làm đoàn, làm dõng, noi gương Nghĩa-đảng, cũng muốn cho bia-miếu muôn đời.

Lính thì vào hàng đội, hàng cơ, gi dạ Cần-vương, họa may gặp rồng mây một hội.

Người cất viết, theo hàng nhung-sĩ, chốn trung-thần còn để sự hồ-vi;

Kẻ rút gươm, ra chốn chiến-trường, thi hành-khách cũng liều da ngựa gói.

Giản quân-chánh đều bốn mươi lẻ bảy, ai thảy tai nghe dạ nghĩ, một lệnh sương nghiêm.

Đính tiêu-kỳ ngày mồng chín tháng ba, hàng bày trống dục, cờ rung, ba quân rao chói.

Sĩ tốt thế mà oai-thanh lại thế, chắc đng thứ Trà, th Phú, khi có xuôi cũng thâu đng thành La.

Chông gai chi mà hào-luỹ làm chi, kể đâu nhà phước, nhà chung, tưởng phá nát chưa dt hơng vọi.

Hỡi ôi!

Nào hay đâu thiên-ý còn ch;

Cho nên ni nhơn-mưu chưa toại.

Kẻ chắc liệp-công trận thượng, liều mình bưc ti, ngọn gió đưa phong-tiết thêm cao;

Người lo gi việc quân tiền, chặt giậu xông vào, tiếng pháo nổ trung-trinh càng dội.

Hỡi ôi!

Hồn trung-liệt biết đâu minh-mịch, mịt-mờ trận gió thổi khắp Sơn-chà;

Ngọn hỏa-quang soi tận trùng-dương, phưởng-phất làn mây bay về Gò-nổi.

Tiếc là tiếc lòng-đinh d-sắt, vì nng vi ân thủy-thổ, hơn na gi mà ngàn thưở từ đây.

Thương là thương mật-nghĩa cang-trung, lại mang lấy kiếp phong-trần, thiếu bao kẻ nên một mình khôn đổi.

Đau đn bấy mẹ già còn tưng trẻ, chữ du-lai đng đó lẽ nào khuây;

Não nùng thay v yếu luống trông chồng,

Câu thùy-thích nghĩ ra càng thêm tủi.

Biết lấy chi chẩn-ủy những người;

Phải dùng lễ đạm nồng theo thói.

Một diên phổ-tế, khuyên mời kẻ dưới người trên;

Ba vạn quốc-âm, thấu nhẽ cây ngàn cỏ-nội.

Có thiêng thì về cố-thổ để xuân-tự, thu-thường, ngỏ dài hương-hỏa trăm năm;

Có thiêng thì về giúp bổn triều cho Tây tán Tả tiêu, thâu lại giang-sơn một mối.

Hỡi ôi!

Thấu chăng chín suối.