“Sông Thu” đáp lời gọi cần-vương 


Trong căn nhà rường tám cột nằm gọn-gàng giữa một khu vườn lịch-sự ngó ra cánh đồng làng An-mỹ, Tiến-sĩ Trần-văn-Dư đang ngồi bàn-bạc với một nhóm tướng lãnh.   ngoài sân có che trại hẳn-hoi, người ta thấy nhiều bộ phản ngựa sắp thành hàng song-song, trên mặt có lót chiếu bông, màu sặc-sỡ. Mấy tên đầy tớ ra vào lăn xăn. Chốc nữa, chúng nó mang lên một mỗi đứa  một cái mâm bằng gỗ đặt ngay ngắn giữa bộ phản. Bên cạnh mỗi cái mâm có một chai rượu quân thắng đã mở nút và một bộ chén chung úp vào cái đĩa xưa màu nguyệt-bạch. Thức ăn chỉ gồm vỏn-vẹn mấy món rất quen thuộc ở min thôn-dã: thịt heo xắt phay đựng trong những  đĩa ngang, thịt trâu nấu xáo múc trong những bát tai bèo to lớn, bánh tét nếp hương, mì gà và xôi đỏ. Quan khách ngồi xấp bằng thành vòng tròn, vừa đánh chén vừa nói chuyện thì-thầm. Toán nào ăn xong thì đứng dậy đi ngay để nhường chỗ cho những kẻ đến sau. Họ không nấn-ná ở lại để bàn-luận dông-dài hay để xoi-bói lẫn nhau như trong những thời-kỳ yên-tĩnh. Ln nầy không phải là lần đầu tiên trong nhà quan nguyên sơn-phòng mới có cuộc đãi-đằng đại-qui-mô như vậy. Trước kia, trong vòng hai mươi năm trở lại, gia-đình này đã tổ-chức hai cuộc đón-rước thật linh-đình. Lần thứ nhất là khi quan sơn-phòng đỗ cử-nhơn và trở về quê-quán. Người ta cũng phải mổ heo tàu, cũng phải vật trâu cổ, cũng dọn mâm bàn, cũng che lều trại. Khách-khứa cũng ăn uống tràn-trề, cũng say-sưa túy lúy. Nhưng đám rước nào cũng không long-trọng, huy-hoàng bằng khi quan sơn-phòng đổ tiến-sĩ trở về quê-hương cùng một lượt với phái-đoàn của triều-đình. Lần nầy dân-chúng hân-hoan vác cờ xí đi biểu-diễn trên đường thiên-lý kéo dài đến hàng chục cây-số. Tiếng nhạc bát-âm, tiếng bu-lu, tiếng ốc chen lẫn với tiếng trống chầu đại-doanh. Ngồi trên con ngựa ô vạm-vỡ, mình mặc áo triều-phục, đầu đội mũ cánh chuồn, chân đi hia mu cong, tay cầm hốt bạc, quan sơn-phòng trông có vẻ oai-nghi, đường-bệ. Đoàn rước uốn lượn nhiều vòng trên những khúc bờ đê, rồi mới đi vào tòa văn-thánh. Ở đây người ta phải làm lễ tạ ơn trời đất và các vị thánh-hiền. Xong xuôi, đoàn người lại tiếp tục diểu-hành để đưa quan sơn-phòng về nhà làm lể vinh-qui bái-tổ. Thật là một ngày tưng-bừng, lộng-lẫy.

Nhưng đó chỉ là dĩ-vãng. Bây giờ tiến-sĩ Trần-văn-Dư hội-họp sĩ-dân lại để làm việc đại-nghĩa, mở cuộc chinh-phạt, khôi-phục cho nhà vua, giải-phóng cho dân-tộc. Từ mng-tưng sáng, lệnh xuất-quân đã ban ra. Mọi người đều lo ăn uống thật mau để lên đường ra mặt trận. Văn-thân ở những hạt xa-xôi gấp rút trở v đơn-vị của mình để kịp hướng-dẫn quần-chúng đánh lấy tỉnh thành. Dân chúng thuộc hai hạt Tam-kỳ, Tiên-phước phải chuẩn bị ráo-riết để nội trong một ngày, hạ cho được thành Dương-yên ở về miền sơn-cước. Tiếng loa đã vang dậy khắp nơi, tiếng ngựa hí mỗi lúc mỗi dồn-dập mà Thương-biện Phạm-trọng-Thảng, người làng An-tây, huyện Quế-sơn, vẫn còn khệ nệ ngồi lại uống rượu. Tiến-sĩ Trần-văn-Dư nghe báo cáo, chạy lại thúc-giục và nói một cách khoan-thai, nửa như đùa, nửa như thiệt:

- Người ta bảo ông gan-dạ lắm. Bây giờ cháy nhà mới ra mặt chuột.

Thương-biện Phạm-trọng-Thảng, mặt đỏ gay, cầm chai rượu quân-thắng giơ lên thật cao, luôn miệng ngâm bài "Lương châu từ" của Vương-Hàn:


"Bồ-đào mỹ-tửu dạ quang-bôi,

Dục-ẩm tỳ-bà mã thượng-thôi.

Túy-ngọa sa-trường quân mạc-tiếu,

Cổ-lai chinh-chiến kỷ-nhân hồi"


Ai nấy cũng bật cười.

Nghe đọc xong, tiến-sĩ Trần-văn-Dư nhìn mặt người bạn của mình mà nói:

-Ông thử phỏng-dịch bài thơ tứ-tuyệt ấy ra tiếng nôm, ông làm được tôi sẽ miễn cho ông cái tội khinh-xuất.

Không để cho quần chúng mời mọc nhiều lần, Thương-biện Phạm-trọng-Thảng ứng-khẩu ngâm-nga mấy câu thơ như sau:


Bồ-đào chất rượu còn nguyên,

Dạ-quang nâng chén, lệnh truyền phải đi.

Say nằm chiến địa cười khì,

Xưa nay đánh dẹp mấy khi đặng về


Một lần nữa, tiến-sĩ Trần-văn-Dư chạy lại nắm cánh tay người bạn mà tuyên bố:

-Văn-thân Quảng-nam không thiếu nhân-tài. Lo gì mà đại-sự không thành.

Rồi tiến-sĩ Trần-văn-Dư hướng-dẫn đoàn quân nhân-dân vừa mới củ-tập, nhắm dãy Răng-cưa và dãy Chinh-lãnh mà tiến về phía mặt trời lặn. Lá cờ vàng, màu sắc của nhà Nguyễn đi trước, bay phất-phới giữa những vạt đậu tứ-qúi, đậu Bình-định vừa mới ra gương hay những luống đậu xanh vừa mới chín bói. Mặc áo triều-phục, cởi con ngựa ô vạm-vỡ, tiến-sĩ Trn-văn-Dư rảo vó theo sau. Nối gót vị chủ súy là nhóm văn-thân với những chiếc võng điều bỏ dìm xanh giữa hai dãy lọng vàng hay những con tuấn-mã kế tiếp nhau bước một, trông ngoạn-mục lắm. Hàng tướng-lãnh không mặc áo ngắn như đám thường dân. Lối phục-sức của họ cũng khá phức-tạp. Có người còn giữ trên mình chiếc mũ cánh chuồn, chiếc áo-bào, chiếc xiêm vẫn dùng khi còn tại chức; nhưng hầu hết đều bận những chiếc áo dài thung-thênh cắt năm thân bằng nhau may với hàng Tàu quí-giá: như đoạn Kim-ngân, địa song-ngư, gấm thất-thể; hay những thứ hàng tơ lụa kỳ-cầu: như xuyến Sài-gòn, như lương La-cả. Họ chít khăn nhiểu màu da trời, thắt dây lưng màu hổ-hoàng, đi giày hạ và búi tóc sau ót. Vừa mới hôm qua, họ là những ông lang, ông đồ, thầy tú, thầy cử hay những vị quan-chức tại triều. Họ còn sống cuộc đời thanh-nhàn, vô-tư của bậc nho-sĩ, kẻ thì uống rượu ngâm thơ, người thì chơi hoa vịnh-nguyệt. Những hạng thất-thế lui về ẩn-dật nơi thôn-dã: quanh năm chỉ biết mỗi một việc đi săn nai, săn heo ở trên rừng, đánh cá nun, cá rói ở dưới sông, mồi cu gầm-ghì ở đầu non, rập chim xanh ở eo gió, đua ngựa hay đá gà. Vì thời thế biến-chuyển mau lẹ, họ đã một sớm hóa thân như con tằm mùa xuân phá vở cái kén, biến thành những thầy quản, thầy đội, lãnh-binh, đề-đốc hay những vị tán-tướng quân-vụ. Lúc xuất trận họ nhường cho quan sơn-phòng đi trước để lãnh-đạo dân-chúng và họ lần-lượt theo sau. Mỗi người cởi một con ngựa trông tợ như một đoàn lạp-phu đi hộ-vệ một vị phiên-hầu săn chim ưng, thả chim mắt-cắt trong thời-kỳ trung-cổ. Họ cũng khá chú-trọng đến việc tiếp-tế lương-thực. Sau nhóm văn-thân là một toán lính mang những cái bung, cái nồi bảy bằng đồng, những cái liễn, cái ché bằng sành, những đôi bầu bằng nan, những chiếc rương đen thui-thủi hay những quả tháp màu đỏ chói. Toán hỏa-thực nầy đi chặng giữa. Tiếp theo là nhóm đông nhân-dân mộ trong những vùng lân-cận. Binh-lính thuộc về hạng người nghèo-nàn thất-học, vì vậy lối ăn mặc của họ không lấy gì làm đặc-biệt cho lắm. Họ bận một chiếc áo cụt cổ bâu bằng vải ta, để quần trật bù-lươn xăn tròn lên tới đầu gối. Một số ít người có vẻ hãnh-diện với chiếc áo quạ lỡ bằng đũi hoặc bằng thao màu nâu hay chiếc áo vải dù cổ kiềng màu đen lánh. Một số ít hơn  lại có ý khoe-khoang sợi dây lưng bằng lụa, dài đến bảy tám sải mà họ quấn nhiều vòng chung quanh thân mình rồi thả nhiều tua lơ-lửng phía trước. Họ toàn đi chân không, người nào người nấy vẫn còn giữ trên chân tay, trên khuôn mặt, trên búi tóc bờm-xờm mấy vết bùn lầy, kết-quả của những giờ lao-động ngoài  ruộng đồng . Bị động-viên bất thình-lình, họ chỉ có thể mang theo những thứ vũ-khí tạm-bợ sử-dụng hằng ngày như rựa quéo, rựa vạc, rìu, búa, bù cào, cuốc chỉa.  Một số người đèo trên vai những chiếc giỏ cau với những viên đá sắc bén mà họ đã ra công tìm-tòi trên bờ suối. Một số ít hơn nữa xách những cái ống thụt bằng tre chứa đầy ớt chuột, ớt chỉ- thiên nghiền nhỏ hòa lẩn với nước. Nhưng phần đông chỉ biết vác xác đến, lên đường với hai bàn tay không y hệt như khi họ rủ nhau đi xem một tuồng hát phường-chèo ở làng bên cạnh. Hàng tướng-lãnh cũng không được vũ-trang khí-giới. Họ phải mang theo những dụng-cụ sẵn có hằng ngày như giáo sào, mã-tấu, những cái khiên bằng rơm-bổi, hay những vật liệu như hỏa-hổ, dầu tây. Trong những ngày đầu của cuộc khởi-nghĩa, hiếm lắm mới tìm thấy một vài khẩu súng hỏa-mai làm bằng tre gốc nạp lưu-huỳnh trộn lẩn bột than thù-đâu.

Lúc mới nhóm họp, đoàn quân ô-hợp nầy chỉ gồm độ năm bảy ngàn người, nhưng về sau lại tiếp-nhận được nhiều toán quân khác. Vào lúc đương trưa, sĩ dân tới làng Thanh-bình trên bờ sông Tiên. Khi tạm dừng bước để chỉnh-đốn hàng-ngũ, tú-tài Phan-đình-Bình, người làng Tây-hồ, phủ Tam-kỳ, đã phi ngựa theo kịp để báo-cáo với quan nguyên sơn-phòng sứ:

- Sĩ-dân miền ngoài đã kéo về tỉnh-thành và còn chờ lệnh để siết chặt vòng vây.

Tiến-sĩ Trần-văn-Dư gật đầu nói với giọng quả-quyết:

- Được! cho phép họ tấn-công.

Nhận được chỉ-thị của cấp trên, tú-tài Phan-đình-Bình quay ngựa lại, dùng gót chân thúc mạnh vào bên hông, con tuấn-mã hí lên một tiếng vang trời, tế một hơi biến mất. Đoàn dân-quân, sau một hồi nghỉ-ngơi, rần-rần rộ-rộ tiếp-tục cuộc hành-trình. Lúc nầy, hoặc vì mệt mỏi, hoặc vì dụng-ý, các vị tướng-lãnh đã lọt lại phía sau để cho binh-sĩ cái trách-nhiệm lãnh-đạo dân-chúng. Khi đã vượt qua những chữ chi chữ nhất của khúc đèo Liêu, họ có thể trông thấy phía trước nhiều tên lính đang kéo nhau đi từng cụm rồi tìm cách tẩu-thoát vào trong bụi rậm. Một sĩ-dân hốt-hoảng  chạy lại trình với vị chủ-súy:

-Bẩm cụ lớn! có quân mai-phục!

Tiến-sĩ Trần-văn-Dư mỉm-cười trả-lời một cách thản-nhiên:

- Không ngại!

Vào khoảng năm giờ chiều, đoàn quân tới địa-phận làng Dương-yên. Tiến-sĩ Trần-văn-Dư  trông chừng phía trước chỉ thấy một lá cờ bay trên vọng gác. Càng tiến gần, đồn-lũy lại hiện ra tiêu-điều, vắng-vẻ trong thung-lũng. Không một tiếng chó sủa, không một bóng người. Đoàn quân theo cửa bắc đi vào trong thành không gặp một sự kháng-cự nào hết. Họ phân-công đi chiếm đóng các kho-tàng, dinh-thự. Tại công-đường họ tìm thấy một bản trần-tình bằng chử nho, đại-lược như sau:

"Tôi, Nguyễn-đình-Tựu, tiến-sĩ xuất-thân, vốn sinh-trưởng nơi sân Trình cửa Khổng, trải qua bao nhiêu cuộc thuyên-chuyển từ giáo-thụ, đốc-học cho tới tế-tửu, phụ-đạo, tôi vẫn lấy việc giáo-huấn làm phương-châm, lấy nghĩa-phương làm mục-đích. Sau ngày phiến-biến, nhơn lưu-trú tại kinh-thành tôi bị cường-quyền áp-bức, phải tạm nhận-chức sơn-phòng. Đó là vì nhất thời tòng-quyền, chớ không phải là bình-sanh sở-nguyện. Nay xét hoàn-cảnh đổi-thay, nước nhà gặp cơn tao-loạn, lại xét mình không thể đảm-nhận trọng-chức nầy, tôi tự-nguyện xin đem ấn-kiếm, đạn-dược, thành trì nạp lại cho những bậc đến sau có tài-đức hơn tôi".

Tiến-sĩ Nguyễn-đình-Tựu đã dự-đoán những việc phải xảy ra. Trước đó một ngày, ông đã kiểm-điểm tiền-bạc, sắp đặt hồ-sơ tử-tập, niêm-phong tất cả lại kỹ càng, rồi đối tùy năm ba người thân-tín, ông về sống ẩn-dật tại làng Phú-thị, thuộc phủ Tam-kỳ.

Tiến-sĩ Trần-văn-Dư bèn thâu-hồi ấn-kiếm, đồn-lũy và lên giữ chức sơn-phòng sứ Dương-yên trở lại.

Bây giờ là ngày mồng năm tháng tám năm 1885.

Cùng một ngày ấy, sĩ-dân các nơi kéo về thị-trấn Vĩnh-điện đông tới sáu bảy vạn người. Tỉnh-thành bị bao-vây bốn mặt, việc giao-thông với bên ngoài bị cắt đứt. Tuần-vũ Nguyễn-đăng-Ngoạn, bố-chánh Bùi-tấn-Quang, án-sát Hà-thúc-Quán hội-họp để bàn việc đối-phó. Tuần-vũ Nguyễn-đăng-Ngoạn tuyên-bố:

-Thế giặc mạnh lắm, ta nên đầu-hàng để tránh những hậu-qủa không hay về sau. Các ngài nghĩ sao ?

Bố-chánh Bùi-tấn-Quang trả lời:

-Ta phụng mạng giữ thành-trì, chưa đánh đã lo bỏ chạy, như vậy tôi chỉ sợ quan thủ-hiến không làm tròn phận-sự.

Án-sát Hà-thúc-Quán nghe nói, liền đứng dậy cố-gắng mở hai con mắt lươn tí-hon ra để phản-đối:

- Gươm đã kề tận cổ rồi mà còn nói danh với nghĩa. Quan bố-chánh có giỏi thì cứ việc mở cửa đương-đầu với họ. Tôi thì tôi sợ chết lắm.

Nói chưa xong, quan án-sát sứ đã run cầm-cập.

Ở bên ngoài, áp-lực của dân-quân mỗi lúc mỗi cứng rắn thêm. Tiếng người, tiếng chó sủa, tiếng ngựa hí chen lẫn với tiếng chiêng, tiếng mỏ, tiếng trống, tiếng tù-và làm cho lòng người thêm giao-động. Biết thế không chống-cự nỗi, tuần-vũ Nguyễn-đăng-Ngoạn bèn ra lệnh cho binh-sĩ đóng chặc cửa thành, rồi cho người đứng trên vọng-lâu dùng ống loa mà truyền xuống:

" Quan tỉnh chúng tôi vâng mệnh-lệnh nhà vua giữ thành-trì và quyền hành-chánh, tức là giữ-gìn cho quí ông và toàn-dân nữa. Nay quí ông muốn nhận lấy trọng-trách ấy thì quan tỉnh tôi sẵn lòng nhường lại. Vậy quí ông nên mau mau phái đại-biểu vào trong thành để lo việc giao nhận"

Tiếng loa vừa mới truyền ra được vài hiệp thì thương-biện tỉnh-vụ Nguyễn-duy-Hiệu đã dùng thang nhảy ra ngoài thành để gia-nhập với đám sĩ-dân. Dân chúng đều vổ tay reo mừng, ai nấy cũng muốn tôn ông lên làm lãnh-tụ. Thương-biện Nguyễn-duy-Hiệu không dám nhận lời chỉ nói vỏn-vẹn có một câu:

-Tôi không có thể làm một điều phạm-thượng.

Người ta chất-vấn mãi, ông mới chịu trả-lời:

-Tôi chỉ là một kẻ thừa-hành. Việc lãnh-đạo dân-chúng đã có quan sơn-phòng sứ Trần- văn-Dư.

Một lần nữa, sĩ-dân vỗ tay reo hò inh-ỏi.

Bây giờ là lúc phải đưa người vào thương-thuyết với chính-quyền địa-phương. Công chúng cứ bàn tán mãi, chưa biết nên chọn người nào, thì ấm-sanh Ông-ích-Cung, tục gọi là Ông ích Hoét, thứ nam của Đốc-binh Ông-ích-Khiêm, đã lẻn vào trong thành, chạy một mạch về phía cửa tiền, vừa chạy vừa nói với mấy tên lính gác:

- Quan tuần-vũ ra lệnh đã lâu mà các anh cứ chần-chờ mãi!

Nói chưa dứt lời, ấm-sanh Ông-ích-Cung đã xông-xáo tiến về chỗ cái then vuông bằng gỗ lim chắn hai cánh cửa như một cái gạch nối. Mấy tên lính giản mặc áo quạ lở màu chàm nhung-nhục, tưởng thật, chỉ biết khoanh tay đứng nhìn chăm-chú. Ấm-sanh Ông ích Cung không để cho họ có đủ thì giờ suy-luận hay nhận-xét, nhanh như chớp kê cái vai vào thanh gỗ mà nông thật mạnh. Hai cánh cửa mở toang. Dân-chúng ùa vào như nước v bờ, chỉ trong khoảnh-khắc đã tràn đầy cả thành-nội. Họ phân ra làm nhiu tốp, đi lục lạo các ti-tào, dinh-thự để vơ-vét tiền-bạc, khí mãnh. Họ không chừa một vật gì hết: họ khuân cho tới cái nồi cái niêu, cái chén, cái bát... Chẳng bao lâu họ dọn sạch chiến-trường, toán nào toán nấy cũng nhận được chiến-lợi-phẩm xứng-đáng với công-lao của mình. Chỉ có toán dân-quân của Tiểu-La Nguyễn-Thành là biết nhìn xa thấy rộng. Họ chỉ lo chuyên-chở những vật liệu cần-thiết cho việc dụng-binh như quân-nhu, quân-khí... Họ cố-gắng lôi kéo mấy tấn đạn-dược, mấy khẩu súng đại-bác... Về sau này Nghĩa-hội lên nắm chính-quyền và có thể duy-trì đến hai ba năm là nhờ có tấm-lòng nhiệt-thành của sĩ-dân hai hạt Thăng-bình và Quế-sơn vậy.

Cuộc khởi-nghĩa chấm-dứt. Nguyễn-duy-Hiệu bèn giữ lại trong tỉnh thành một số văn-thân để tạm-thời duy-trì công-việc hành-chánh dưới sự lãnh-đạo của nha sơn-phòng Dương-yên. Ông còn cho một phái-đoàn hộ-tống tuần-vũ Nguyễn-đăng-Ngoạn và các vị quan-lại Nam-triều về nguyên-quán. Xong rồi ông sai binh-sĩ lấy đất lấp chặt cửa tiền lại, chỉ cho phép nhân-dân ra vào ba cửa hậu, tả, hữu, vì mọi người đều cho rằng để mở cửa tiền là một điềm không tốt.