Bình-minh của phong-trào Đông-Du


Lâu năm về sau, vào một buổi chiều tà, khi ánh-dương còn phản chiếu lấp-lánh trên mặt nước bao-la trải dài từ chân dãy ngũ-hành-sơn, hai người đàn-bà lên ngồi trên Vọng-hải-đài. Người đàn bà th nhất, trạc ngoại tứ tuần, dáng vẻ phong-lưu, ngâm nho-nhỏ bài "Vịnh chùa Non-nước " của nhà cách-mạng Châu-thượng-Văn Hội-an:


Hay là ông thánh khổng-lồ xây,

Mới có non non, nước nước nầy.

Ngó lại, ngó qua, năm đống đá,

Tu lên, tu xuống, mấy ông thầy.

Lên đài Vọng-hải, trông xa hoắc,

Vào động Huyền-Không, ngó trống quầy.

Lếu-láo ngâm đưa ba chén rượu,

Cõi trần âu cũng có tiên đây.


Người đàn bà th hai nghe bài thơ, nói một mình:

- Hai câu kết quá hay, lại đáp trả chính xác bài thơ của nữ-sĩ vùng Nghệ-tịnh.

Nghe lời khen bài thơ, người ngâm thơ hỏi:

- Bài thơ chtả cảnh chùa, đâu có đối đáp với ai, sao chị nói vậy?

- Dạo trước em vào huyện Hà-đông, ngủ lại một đêm tại vạn Tam-kỳ, có gặp một nữ-sĩ tên là Nguyễn-thị-Đào, người huyện Thanh-chương, tỉnh Nghệ-an, cháu nội quan thám-hoa Nguyễn-đức-Đạt. Bà có làm một bài vịnh Hà-đông, ý thơ có tính cách khinh-rẻ xứ Quảng chúng ta. Em xin đọc bài ấy cho chị nghe, xin chị hãy chú-ý ti hai câu-kết, rồi cất giọng trong-trẻo, ngâm lên một bài bát-cú như sau


Trước huyện Hà-đông vốn ở đây,

Có đồn dây thép, có lầu Tây.

Giòng sông T-chánh, quanh quanh chảy,

Ngọn núi Tùng-lâm, lặp lp xây.

Kim đái đai vàng đâu thưở trước,

Thạch-kiều cầu đá đó ngày nay.

Sông Tiên nào thấy ông tiên tắm,

Vãi lưới, buông câu mấy lão chài.


Ngưi th nhất là bà Phan-Quyển, tục gọi là bà Bang-Nhãn, làng Bảo-an, tỉnh Quảng-nam, một nữ-sĩ có tiếng trong văn-học. Ngưi bạn song-hành là ca-nữ vô-danh, không rõ lại-lịch. Hai người chuyện trò một lúc rồi cùng nhau xuống núi  tạm-biệt nhau khi ra ti bến đò sông Hàn. N văn-sĩ lên đường về mạn-ngược, ca-nữ ở lại, đứng một mình trên bãi cát. Trên giòng sông, vang-vọng giọng ca lanh-lảnh của một thôn-n chèo đò:


Tai nghe tiếng nổ cái đùng;

Tàu Tây đã đến Vũng-thùng bậu ơi!


Câu thơ nhắc đến thời-kỳ ban-sơ trong cuộc tiếp-xúc với người Pháp, khởi đầu một giai-đoạn đau thương của dân-tộc làm động lòng khách lữ-hành đương bềnh-bồng trên sông nước, từ đó một giọng hátng-đối trổi lên trong khoảng không bao-la  mây nước:


Mưa trên tri mưa xuống,

Gió ngoài Hà-nội thổi vô.

Từ ngày thất-thủ kinh-đô;

Ông Tây về dăng dây thép;

Họa địa-đồ nước Nam.


Lời thơ nhc đến trận chiến-tranh giữa người Pháp và triều-đình nhà Nguyễn, đến cuộc xuất-bôn của vua Hàm-nghi ra Tân-sở, một người đánh cá đang neo thuyền ngoài-khơi, cũng cất giọng hát hà hát hỏng một mình:


Chiều chiều mây phủ Hải-vân,

Chim kêu gành đá, gẫm thân lại buồn.


Lời ca trầm buồn làm liên-tưởng đến thời-kỳ người Pháp mi bt-đầu xây-dựng con đường hỏa-xa giữa Hội-an và thành-phố Huế. Trong giai-đoạn nầy, người dân x Quảng-nam phải cơm đùm cơm gói ra làm công-ích tại đèo Hải-vân, phải chịu nhiều vất-vả. Trong khi hành-dịch xa-xôi, họ phải vật-lộn với bệnh sốt-rét hiểm-nghèo, chống-chọi với ma-thiêng nước độc. Lúc trở về nhà, còn phải sống dưới s áp-bc của bọn cường-hào, chịu sự bóc-lột của bọn tham-quan ô-lại, vì vậy họ phải tổ-chức nhng cuộc khởi-nghĩa liên-tiếp để loại-trừ bọn thực-dân. Nh có tinh-thần bất-khuất nung-nấu trong lòng, hđã đứng dậy nhiều phen để phản-đối bạo-quyền, bất-cứ t phương nào đến. Hết thế-hệ này đến thế-hệ khác, người dân bị đàn-áp một cách mãnh-liệt: kẻ bị tù đày, người mai-danh ẩn-tích tại chốn thâm-sơn cùng-cốc. Họ không bao giờ thay đổi chí-hướng, trong cảnh giàu-sang cũng như trong lúc cùng-vô-s-xuất. Để phản-ảnh tâm-trạng của những nhà ái-quốc bị sa-cơ thất-thế, một vị ngư-ông ngồi buông câu trên bến, cũng tiếp lời bọn dân-chài hát lên rắn-rỏi:


Trông lên hòn-kẽm Đá-dng;

Thương nhà, nh nước quá chng bậu ơi!


Người ca-n vô-danh đng tần-ngần một hồi lâu, mi gọi thuyền sang sông. Một khi lên bờ, ngồi yên-tĩnh trên một tảng đá, nàng mới đọc đi đọc lại mấy câu thơ cảm-khái mà nàng vừa mi nghĩ ra trong lúc quá-giang:


Đng bên ni Hà-thân,

Ngó qua bên kia Hà-thân,

Thấy nước xanh như tàu lá.

Đng bên kia Hà-thân,

Ngó qua bên ni đất Hàn,

Thấy phố-xá nghêng-ngang.

Từ ngày Tây lại cửa Hàn;

Đào sông Câu-nhí, bòn vàng Bồng-miêu.

Dặn tấm lòng em bậu đừng xiêu,

Ở  nuôi phụ-mẫu, sớm chiều có ta!


Nàng nhìn quanh-quất từ dãy Trà-sơn lẩn-khuất trong đám sương mù cho ti vùng Hàn-hải xanh lơ bát-ngát. Bất-giác, nàng nhớ đến lời tâm-sự phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu, vị thủ-lãnh Nghĩa-hội, đã tỏ bày với c-nhơn Phan-bá-Phiến trong giờ vĩnh-biệt:

“Việc đã không thể làm thì chỉ có chết mà thôi. Nhưng hai chúng ta cùng hy-sinh một lúc là vô-ích. Vậy ông nên chết trước thì hơn để đền nợ cho tổ-quốc. Còn tôi, tôi phải nấn-ná một thời-gian để hoàn-thành nhiệm-vụ của một người thủ-lãnh, nhiên-hậu tôi sẽ noi theo gót ông mà cùng về nơi chín-suối. Tôi sẽ giải-tán Nghĩa-hội và sẽ đem thân cho Pháp bắt. Một khi ra trước tòa-án, tôi sẽ tìm lời giải-thoát cho các đồng-chí. Một mình tôi chết thì không đáng tiếc, nhưng còn người sống thì Nghĩa-hội sẽ còn tồn-tại. Nếu ngày sau có kẻ noi theo cái chí-hướng của ta mà thành-công tức là ta còn sống đó.”

Càng ngẫm-nghĩ đến những li trối-trăn của vị chủ-súy, nàng càng cảm-thấy bồi-hồi thổn-thức trong d. Nàng gọi xe kéo đi về hãng Pháp-kiều Le Roy ở tại ngã Trẹm. Chiếc xe dừng bánh, vội-vàng bước xuống, chờ lúc vắng bớt người nàng đẩy cổng đi thng vào trong phòng giấy. Một viên ký-lục trẻ tuổi, chạy ra đón nàng ngoài mái hiên, trao cho nàng một bó thơ và rỉ tai nói thật khẽ:

- Bà chị nên cẩn-thận một chút, kẻo bọn mật-thám theo dỏi riết lắm đấy!

Nàng gật đầu, bỏ công-văn vào trong chiếc cặp da, thoăn-thot ra đi, như không muốn để cho kẻ bàng-quan trông thấy sự hiện-diện của mình. Ra ti con đường b sông, nàng dng chân lại để quan-sát tình-hình, rồi theo bọn hành-khách xuống một chiếc ghe mành xuôi về chợ Bàn-thạch.

Vào lúc mửng-tưng sáng chiếc thuyền cập bến. Chlúc vắng khách bộ-hành, nàng đi theo con đường mòn nm thoai-thoải giữa khoảnh đất chứa đầy rác-rãnh lên gian ch, bước vào một quán thấp le-te trước ngôi đình-thị. Một vị lão-thành quắc-thước, đương mãi đng ngm bức tranh gà trên vách, bước xuống thềm đón nàng, trao cho nàng một chiếc đãy cha đầy bạc nén, nói rất khẽ:

- Bà chị nên cẩn-thận một chút kẻo bọn mật-thám theo dõi riết lắm đấy.

Cúi chào rồi quay gót lên đường về làng Thạnh-mỹ, ở hạt Thăng-bình, nàng vào yết-kiến nhà cách-mạng Nguyễn-Thành, nhân-vật thứ ba trong Nghĩa-hội còn sống sót, trao mật-thư và tiền bạc cho vị thủ-lãnh rồi đứng khép-nép bên cạnh chiếc phản-ngựa để chờ huấn-thị. Lúc bây giờ phong-trào Cần-vương đã lu-m, các vị lãnh-tụ như bao nhiêu ngôi sao một góc trời đã theo thi-gian mà mai-một gần hết: tiến-sĩ Phan-đình-Phùng đã qua đi, tán-tướng Nguyễn-thiện-Thuật đã chạy trốn sang Tàu; chỉ còn một mình đề-đốc Hoàng-hoa-Thám đương cầm-cự một cách vô-vọng tại vùng Yên-thế. Trong tình-thế đó, ở vùng Ngũ-hành-sơn, một ngọn đuốc đã được thắp sáng tr lại, soi khắp mọi nơi và tụ-họp được tất cả dưảng Cần-vương về một mối.

Vào thượng-tuần tháng tư năm 1904, nhà cách-mạng Nguyễn-Thành, tục gọi là Tiểu-la phu-tử, đã triệu-tập hầu-hết các văn-thân trong nước về làng Thạnh-mỹ, bí-mật khai-hội, lập nên phong-trào Đông-du, được nhà cách-mạng Phan-bội-Châu làm phụ-tá và Kỳ-ngoại-hầu Cường-Để làm minh-chủ. Khi cơ-cấu đã thiết-lập xong, nhà cách-mạng Nguyễn-Thành phải xúc-tiến công việc rất gấp. Một mặt cho gọi tán-tướng Tăng-bạt-Hổ trở về nước để hướng-dẫn nhà cách-mạng Phan-bội-Châu sang Nhật-bản mưu-cầu ngoại-viện. Mặt khác, lệnh cho tán-tướng Đỗ-đăng-Tuyển đi khp ba kỳ để quyên-liễm tiền-bạc, còn ông phải ở nhà để lo chủ-trương chung và nhân-s. Vị thủ-lãnh phong-trào Đông-du ngồi kể lại cho người ca-n vô-danh nghe rõ s chuyển-hướng của Nghĩa-hội và đưa cho nàng xem bài "T-giã" mà Phan-bội-Châu tiên-sinh sáng-tác lúc mới bước xuống tàu thủy lần đầu tại Hải-phòng:


Sinh vi nam t yếu hy-kỳ;

Khẳng ha càn-khôn t chuyển-di.

Ư bách niên-trung tu hu ngã;

Khi thiên tải hạ cánh vô-thùy.

Giang-sơn t hỉ sinh đồ nhuế;

Hiền-thánh liêu-nhiên tụng diệc si.

Nguyện trục trường phong đông hải khứ;

Thiên-tùng, bạch lãng nhất tề phi.


Bài đường thi nầy mở-màn cho một giai-đoạn mới trong cuôc đấu-tranh của dân-tộc Việt-nam để bảo-vệ sự sống còn. Cách đây hơn một năm nhà cách-mạng Phan-bội-Châu đã khi-hành t Nghệ-an vào làng Thạnh-mỹ để yết-kiến vị lãnh-tụ phong-trào Đông-du, rồi dắt nhau lên hạt Tiên-phước để viếng thăm hai nhà cách-mạng Huỳnh-thúc-Kháng và Phan-tây-Hồ. Tiểu-la phu-tử kể lại cuộc hành-trình lịch-sử ấy và luôn tiện đưa cho nồng-chí xem bài "Lưu-giản" mà Phan-bội-Châu tiên-sinh đã khẩu-chiếm lúc tạm-biệt một vị thân-hào trên b sông Tiên:


Kỳ khí ngã du thiên hải ngoại;

Nhàn tình quân ký bích vân trung.

Mãn hòe ấm biển trưng gia-phước;

Độc Minh-Viên thi thức chủ ông.

Thu lão giang hồ duy bạch điểu;

Nhật tà thiên địa nhất chinh hồng.

Tọa lai bôi tửu đàm di s;

Do giác hàn mang họa bích không.