Pháp tấn-tiêu đồn Trung-lộc


Cái chết bất-ngờ của viên đồn-trưởng Bà-rén đã gây ra một phản-ứng rất mạnh trong hàng-ngũ người Pháp. Mặc dầu mùa đông chưa chấm-dứt, đường sá bị lầy lội nhiều nơi, có thể làm cho việc hành-quân bị cản trở, ban chỉ-huy ở Đà-nẳng cũng lo chuẩn-bị gấp rút cuộc tấn-công vào đồn Trung-lộc, sào-huyệt cuối-cùng của Nghĩa-hội. Ngày mười tám tháng chín năm Bính-tuất, lính Ả-rập, lính Lê-dương tụ-tập rất đông tại trạm Hương-an và theo con đường tỉnh-lộ tiến về huyện-lỵ Quế-sơn. Mục-đích của toán quân thứ nhất nầy là xuất-kỳ bất-ý đánh bọc hậu vào Tân-tỉnh để chận con đường rút lui của văn-thân. Họ vừa mới qua khỏi khúc đèo Mộ-da thì nghe ở phía trước có tiếng la thất-thanh:

- Tây ló! Tây ló!

Viên chỉ-huy Pháp lấy ống dòm ra nhìn và thấy lính Tàu-ô đương bỏ căn-cứ của mình chạy tán-loạn vào thôn xóm. Toán quân Ả-rập cứ việc tiến lên thật nhanh, càng tiến sâu chừng nào thì dân-chúng càng bỏ trận-địa chạy hốt-hoảng.

Hai chữ "Tây ló" của người Tàu đã thành ra phổ-biến và cứ lan dần cho đến tận những nơi hang-cùng ngỏ-hẽm. Trong lúc ấy, tại ngôi đình làng Phước-đức, tên lính Đoàn-kiết ngồi gác một mình ngoài sân, liếc mắt nhìn vào thấy chủ-súy của mình đương ngậm cái rọc tẩu kéo một hơi rất ngon lành, hai con mắt còn lim-dim như chưa thoát ra khỏi một cơn mộng-mị. Gần bàn đèn, một cô thôn-nữ quê-mùa, đương ngồi phe-phẩy chiếc quạt giấy, chốc chốc lại cúi xuống lấy chiếc que sắt khêu sợi tim bấc trong đĩa dầu lạc. Nàng nhìn cảnh-vật với cặp mắt buồn-rầu miễn-cưỡng, một phần bực-tức vì cái nhiệm-vụ mới lạ của mình, một phần e-dè vì tên lính Đoàn-kiết khác đang đứng khoanh tay nhìn trộm mình ở bên cạnh hàng lỗ bộ. Gian nhà, bỏ phế từ lâu, gần đây mới dùng làm trụ-sở cho Nghĩa-hội bị chìm-đắm trong cảnh âm-u tĩnh-mịch. Nhân-vật thứ nhất nằm sóng-soài trên bộ phản ngựa là Trn-Hách hay Quản Hách, lúc bấy giờ đương chỉ-huy mặt-trận Quế-sơn. Vừa mới hôm qua, y thân-hành ra làng Hòa-mỹ, ở phía dưới truông Đàng Rắn để đốc-suất dân-chúng chặt tre thiết-lập một hàng chiến-lũy cho địa-hạt của mình. Thấy bọn lý-hương làm việc có hơi chễnh-mãng, y tuốt gươm ra, giết ngay tức-khắc một vài tên để thị-uy, rồi tụ-tập mọi người lại, một tay cầm chiếc thủ-cấp của vị bô lão, một tay lấy con roi ngựa chỉ vào khoảng rừng ở gần đấy mà dọa-dẫm:

- Tao để cho một bữa chiều này nữa tụi bay làm không xong thì cây trong làng này đều phải phút ngọn hết.

Dân-chúng biết tiếng y từ lâu, tỏ vẻ sợ-hải, nhìn xuống đất như để tránh một cơn giông-tố khủng-khiếp. Sáng bữa nay hắn mới về tới tổng-hành-dinh, nhờ có mấy điếu thuốc phiện do tên lính hầu-cận tiêm giúp, nhờ có những mơn trớn vỗ-về của người thôn-nữ vừa mới tuyển-mộ, hắn cảm thấy khoan-khoái, rồi không biết từ lúc nào đã thiếp ngủ. Trong khoảnh-khắc hắn đã nằm mơ thấy mình đứng xông-pha ngoài chiến-tuyến, dân-chúng khắp bốn phương nghe uy-danh đều thán-phục kéo về khép-nép kêu nài, van lơn inh-ỏi: " Trăm lạy quan lớn, chúng con đã nạp đủ số tranh tre rồi, xin quan lớn rộng lòng tha-thứ cho chúng con được một lần sống sót"...Bị lay-chuyển bởi đám biểu-tình mỗi phút mỗi đông-đảo ồn-ào, y tỉnh dậy và nghe ở bên ngoài có tiếng còi rú, tiếng chó sủa, tiếng ngựa hí rầm-rộ. Lắng tai hơn chút nữa, hắn có thể phân-biệt rõ-ràng những tiếng kêu thất-thanh, sợ hải của đoàn quân tiên-phong vừa rút lui, vừa muốn cảnh-báo cho dân-chúng: "Tây ló! Tây ló!".  Hốt-hoảng, hắn  chồm dậy, nhảy một vọt dài từ bộ phản ngựa ra tới ngoài hiên. Cắm đầu chạy sng-sộc một hơi, chẳng may cái quần lại mắc vào then cửa, bị toát ra làm hai mảnh mà hắn không hề hay biết. Lúc bấy giờ hắn chỉ còn một chiếc áo cộc để che thân. Vượt qua cánh đồng vắng-vẻ, hắn chui vào một căn nhà tranh nằm biệt-lập hẳn ngoài thôn xóm, đẩy nhẹ cánh cửa bằng tre rồi hỏi với một giọng quen thuộc:

- Chú Tư Xề có ở nhà hay không?

Chủ-nhân hiện đi vắng, chỉ có người vợ trẻ chạy ra tiếp-đãi niềm-nỡ và có ý giễu-cợt lả-lơi:

- Chú Tư ấy à, chú Tư còn phải đi tập họp anh em nhà nghề để tối nay làm ăn một mẻ cho khá lớn. Bọn họ Dương ở làng Thắng-sơn đã giàu kết-sù mà lại còn biển-lận. Không đào vách chui vào rinh cả tủ bạc về làm việc dân việc nước, cứ để cho bọn ấy chất mãi trong kho mà ngắm thì phỏng có ích lợi gì cho dân-chúng. 

Đứng nghe câu chuyện nhưng y cảm thấy hổ-thẹn vì không có quần để mặc. Người đàn bà tinh-ranh vẫn đứng mãi một chổ, đưa hai con mắt dao cau ra nhìn một cách hết sức tình-tứ:

- Mà mình phải nhớ ủng-hộ cho chú Tư với nhé. Nếu không Nghĩa-hội sẽ bắt bớ và có khi họ chặt lấy thủ-cấp, vẽ thêm vài sợi râu-ria cho thành người Pháp rồi cho kẻ thân-tín mang qua Tân-tỉnh để lãnh tiền ủy-lạo; nghe nói mỗi cái đầu như vậy là năm quan tiền kẽm hẳn-hoi chứ đâu có phải ít mà dám khinh-thương, coi rẻ.

Nói tới đây người đàn bà tinh-quái lại thay đổi nét mặt cho ra vẻ nghiêm-trang rồi rỉ vào tai để trình-bày một việc quan-trọng:

- Mấy dạo này bọn trộm cướp hoành-hành gắt-gao làm cho dân-chúng phải than-phiền. Vì vậy quan tổng-đốc Nguyễn-duy-Hiệu có ra chỉ-thị cho chính-quyền điạ-phương nên thẳng tay đàn-áp. Lệnh đưa ra là "bất câu vi thủ vi tùng nhất luật ưng-hành trảm-quyết". Luật chi mà ghê-gớm vỏn-vẹn chỉ có mười hai chữ mà làm cho thiên-hạ sởn tóc gáy hết. Mình có nghe biết đến không?

Hắn gật đầu lia-lịa nhưng vẫn không quên rằng bộ y-phục của mình chỉ còn có một phân nửa ở trên. Cuối cùng người đàn bà lẳng-lơ mới chịu đi vào trong buồng-khoa, lấy ra một chiếc quần lụa còn mới tinh, thẳng tay đưa cho hắn và nói một câu đầy ý-nghĩa:

- Tôi biết hết rồi, một là bị con mèo nào phổng tay trên rồi lại bị mấy tên giặc Pháp làm cho phải kinh-hồn khiếp-vía như mấy lần trước. Thôi tôi xin ông đừng có làm giặc nữa! con người như rứa mà lại miệng hùm gan sứa.

Xấu hổ, bực-tức y cũng muốn trả lời ngay: không làm Nghĩa-hội thì tụi bây lấy gì mà bỏ vào trong mồm! Nhưng y dằng được ngay mối cảm-xúc. Tức thì y chạy thẳng vào trong xó bếp, nhặt ra một thanh củi, bảo người đàn bà chanh-chua ấy gài ngay chiếc cửa hông cho thật kỹ, xong xuôi y đưa tay vớ lấy chiếu, đem giải vội-vàng lên trên bộ phản gỗ, nằm xuống một cách nặng-nề, uể-oải. Lanh-lẹ người đàn bà tinh-quái ấy chạy đi tìm hai chiếc gối mây hình lăng-trụ, đặt một chiếc dưới đầu của hắn, còn chiếc kia giữ về phần mình. Hai người cứ nằm như vậy mà nói những chuyện tầm-phào, đến xế chiều, người đàn-bà bảy phủ ấy mới được giải-thoát. Hắn thong-dong từ bỏ căn nhà tranh tồi-tàn, hẻo-lánh để trở về trú-sở của mình. Tới nơi hắn mới  biết rõ tình-hình chiến-sự: phòng-tuyến đã bị tan vỡ, nghĩa-binh của hắn đã tự ý phân-tán mỗi người mỗi nơi, quân Pháp đã vượt qua đèo Rập-cu để tiến về Tân-tỉnh. Buồn-rầu, mệt-mỏi, chán-nản, hắn ngồi bệt xuống vạt cỏ ở bên đường công-hương, lặng-lẽ nhìn mấy vầng mây xanh thẵm đương bay qua từ từ phía sau dãy núi Tào-sơn.

Trong khi ấy, một toán quân Pháp khác dùng ca-nô đi ngược giòng sông Thu-bồn để mở gọng kìm thứ hai, chuẩn-bị tấn-công đồn Trung-lộc về mặt bắc. Tới địa-phận làng Quảng-đại, phủ Duy-xuyên, quân Pháp thấy một chiếc thuyền không mui đậu lơ-lửng ngoài khơi. Viên chỉ-huy Pháp ra lệnh cho bộ-đội của mình tiến sát lại gần, ngay lúc đó từ trên bờ, một tên lính Đoàn-kiết chồm-ngồm đứng dậy, lôi sợi dây dừa buộc vào chiếc thuyền làm cho trái thủy-lôi ở bên trong nổ lên tung-tóe. Mấy chiếc giang-đỉnh của Pháp đi lướt qua thật nhanh, không bị hư hỏng gì hết. Từ đấy rút  kinh-nghiệm, mỗi ln gặp ghe thuyền qua lại ở trên sông, họ liền xả súng bắn đề-phòng làm cho bọn chài lưới phải bị chết oan khá nhiều, vì vậy dân-chúng phải bỏ nhà đi tản-cư. Trên con đường tiến vào miền sơn-cước, quân Pháp không gặp một sự cản-trở nào đáng kể. Rạng ngày mười chín tháng chín, họ đổ-bộ lên chợ Trung-phước rồi bắn phá dữ-dội. Vị chỉ-huy nghĩa-binh là Đỗ-đăng-Tuyển, người làng Ô-gia, cố-gắng chống-cự một hồi, rồi phải rút về cánh đồng Trung-lộc và phi-báo cho hậu-phương biết. Được tin, tổng-đốc Nguyễn-duy-Hiệu triệu-tập ban tham-mưu Nghĩa-hội lại, bàn tính kế-hoạch để đối phó. Các vị tướng-lãnh còn đương bàn-tán hết sức sôi-nổi, chưa có thể quyết-định nên dốc toàn-lực vào cuộc chiến-đấu hay nên thối-lui về một căn-cứ khác thì thình-lình từ bên ngoài một tên thám-tử xồng-xộc chạy vào tỉnh-đường cho biết lính Pháp đã từ phía nam vượt qua khỏi đèo Rập-cu và đang trên đương tiến nhanh về Tân-tỉnh. Ban tham-mưu liền trèo lên vọng-lâu để quan-sát tình-hình và thấy bọn lính Pháp đương bồng súng chạy lúp-xúp trong cánh-đồng, tiếng kèn giục quân của họ đã theo chiều gió bay về nghe rõ mồn một. Không còn nghi-ngờ gì nữa, tổng-đốc Nguyễn-duy-Hiệu trở vào hội-nghị và hỏi ý-kiến ban tham-mưu lần cuối cùng. Tất cả mọi người đều quyết-nghị nên bỏ đồn Trung-lộc để rút lui về An-sơn, một căn-cứ đã lựa chọn từ trước ở hạt Quế-sơn. Còn một việc nữa là phải xử-trí như thế nào đối với một số chính-trị phạm còn bị giam-giữ trong nhà lao-xá Tân-tỉnh. Có người bàn nên phóng-thích để cho về nguyên-quán, có người lại bàn nên đem theo để tránh mọi sự lo-ngại về sau. Các vị lãnh-đạo Nghĩa-hội còn đương phân-vân thì tiếng súng từ phía nam phía bắc, tất cả hai mặt, đều đã vang lên dậy cả núi-rừng. Tình-thế trở nên vô-cùng khẩn-cấp. Lúc bấy giờ người ta không còn tâm-trí để suy-nghĩ nữa. Một vị tướng-lãnh là tú-tài Nguyễn-đình-Khiêm đứng dậy dõng-dạc nói:

- Nếu ta không giết hết bọn Việt-gian này, thả chúng nó về Vĩnh-điện, chúng nó sẽ cấu-kết với bọn Pháp tìm cách trả-thù không bỏ sót một người nào hết.

Tất cả đều tán-thành ý-kiến ấy. Tức-khắc tổng-đốc Nguyễn-duy-Hiệu ra lệnh cho viên đề-lao phóng-hỏa đốt nhà lao, làm cho hai mươi vị thân-sĩ trong đó có đốc-học Huỳnh-K, người làng Xuân-đài, Ấm-sanh Phạm-phú-Đường, người làng Đông-bàn, tú-tài Nguyễn-đình-Bật, người làng Kỳ-lam và một số tù-phạm về kinh-tế bị chết thui trong hỏa-hoạn vô cùng thê-thảm. Khi ngọn lửa Tờn vừa mới dập tắt, bọn lính Pháp đổ xô vào cứu Tân-tỉnh và chỉ còn thấy một đống tro tàn. Tất cả dinh-thự, đồn-lũy bị cháy sạch cùng lúc với nhà lao-xá. Ban tham-mưu Nghĩa-hội và quân-đội của họ đã rút lui được hết. Đi lục lọi, bưới xới đống tro tàn, bọn lính Ả-rập tìm thấy hai chiếc thây đã cháy đen đương ôm choàng lấy nhau trong giờ hoạn-nạn, cũng như trong phút vĩnh-biệt. Nhìn kỹ thì mới biết đó là thi-hài của hai vị nhân-sĩ vô-tội, bị nghi-oan là có âm-mưu với giặc: cử-nhơn Huỳnh-Kỳ và ấm-sanh Phạm-phú Đường.

Ba ngày sau, đoàn quân viễn-chinh Pháp âm-thầm rút về vị-trí cũ tại Vĩnh-điện. Khắp tỉnh Quảng-nam, đâu đâu người ta cũng nghe tiếng chuông, tiếng mõ của những gia-đình đương làm lễ cầu-siêu cho những thân-hào bị chết trong biến-cố.  Khắp các nẻo đường đã diễn ra những cảnh-tượng vô-cùng cảm-động: một người đàn bà góa còn thanh-xuân, mặc tang-phục bế đứa hài-nhi đứng ngoài cỗng, mắt đăm đăm trông về phía mặt trời lặn; mấy đứa con nít côi-cút mỗi chiều dắt tay nhau đi thơ-thẩn ngoài đồng như muốn tìm lại những gì vừa đánh mất...

Trận đồn Trung-lộc tức là Tân-tỉnh đã hạ màn.