Phản-ứng đầu tiên của quân Pháp


Thống-tướng Cua-Xy sang nhậm-chức tổng-trú-sứ Đông-dương vào ngày ba mươi mốt tháng năm năm 1885. Ông chỉ lưu lại ở Bắc-kỳ một thời gian rất ngắn. Trong thượng-tuần tháng bảy năm ấy, ông phải vào Thuận-hóa để trao đổi giấy tờ về việc phê-chuẩn hòa-ước năm Qúi-mùi, tức là năm 1883, tu-chỉnh bởi hòa-ước năm Giáp-thân, tức là năm 1884. Cuộc điều-đình không đem lại kết-quả, vì gặp sự phản-đối của hai vị trọng-thần là Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết. Tiếp theo đó, cuộc khởi-nghĩa của binh-sĩ tại kinh-thành trong đêm mùng bốn tháng bảy năm 1885 và việc xuất-bôn của vua Hàm-Nghi ra Tân-sở làm cho tình-hình mỗi ngày mỗi thêm rắc-rối. Để vãn-hồi trật-tự ở trong nước, thống-tướng Cua-Xy phải nghĩ ngay đến việc tổ-chức và tăng-cường quân-đội. Trước khi ông vào Thuận-hóa mở cuộc thương-thuyết với chính-phủ Nam-triu, lực-lượng viễn-chinh của Pháp ở miền Trung-việt gồm có chín đội thủy-lục-quân: ba đội thủy-lục-quân đóng tại nha Công-sứ, một đội thủy-quân, một pháo đội thủy-quân đóng tại Mang-cá, hai đội thủy-quân tại cửa Thuận-an, một đội thủy-quân tại cửa Đà-nẳng và một đội thuỷ-quân tại cửa Qui-nhơn. Ngoài ra lại còn có chiếc pháo-hạm Ra-Phan đậu thường-xuyên tại Huế và đặt dưới quyền chỉ-huy của đại-úy hải-quân Ba-Bô. Muốn tăng-cường những lực-lượng ấy, thống-tướng Cua-Xy phải rút bớt nhiều đơn-vị lục-quân và thuỷ-quân đóng tại Bắc-việt. Lúc mới vào Thuận-hóa, ông đã mang theo một đại-đội lính Bắc-phi đặt dưới quyền điều-khiển của thiếu-tá Mết-danh-Ghe, một pháo đội thủy-quân và một trăm lạp-bộ binh thuộc về đại-đội thứ mười một. Về sau ông còn lấy thêm hai đại-đội thủy-lục-quân đặt dưới quyền chỉ-huy của trung-tá Sô-Mông, một pháo đội thủy-binh và số lạp-bộ-binh còn lại thuộc về đại-đội thứ mười một. Như vậy tất cả quân đội của Pháp tại Trung-việt có thể lên tới sáu đại-đội lục-quân và ba pháo-đội, nghĩa là vào khoảng hai ngàn người. Về mặt khác, thống-tướng Cua-Xy phải gọi một sĩ-quan có khả-năng vào Huế để tổ-chức lại quân-đội. Ngày mười bảy tháng bảy năm 1885, thiếu-tướng Bờ-Ruy-Đôm vào nhận chức tổng-chỉ-huy tại Trung-việt và chia quân-đội Pháp ra làm ba nhóm có vị-trí khác nhau. Nhóm thứ nhất đặt dưới quyền chỉ-huy của trung-tá Mết-danh-Ghe, gồm có những đơn-vị hiện đóng trong hoàng-thành Huế. Nhóm thứ hai, đặt dưới quyền chỉ-huy cuả trung-tá Sô-Mông gồm có hai đại đội thủy-lục quân. Nhóm nầy phụ-trách việc chiếm-đóng các tỉnh ở về miền bắc, từ Quảng-trị đến Thanh-hóa. Nhóm thứ ba đặt dưới quyền chỉ-huy của trung-tá Bét-Nô, cũng gồm có hai đại-đội thủy-lục-quân. Nhóm nầy phụ-trách việc chiếm đóng các tỉnh ở về miền nam từ Thừa-thiên cho đến Bình-thuận. Tuy vậy trung-tá Bét Nô không mở rộng những vị-trí sẵn có từ trước và chỉ tập-trung quân-đội vào ba thị-trấn Thuận-hóa, Đà-nẳng và Qui-nhơn. Tại cửa bể Đà-nẳng có ba chiến-thuyền đặt dưới quyền chỉ-huy của trung-tá Tu-Sa. Tại cửa bể Qui-nhơn, cũng ch có hai chiến-thuyền đặt dưới quyền chỉ-huy của trung-tá hải-quân Gô-Rét.

Phần lớn binh-lực viễn-chinh phải đồn-trú tại Thuận-hóa. Khi nào có một tỉnh bị văn-thân uy-hiếp, trung-tá Bét-Nô cho rút bớt nhiều đơn-vị để đi tuần-tiễu một thời-gian, rồi lại kéo về vị-trí của mình y như củ.

Việc tổ-chức quân-đội đã hoàn-thành, thống-tướng Cua-Xy cho mời trung-tá Bét-Nô sang nha công-sứ và hỏi một cách đột ngột:

- Ngài có nhận được tin-tức ở Quảng-nam không ?

Trung-tá Bét-Nô lấy khăn tay ra lau đi lau lại cái trán ướt dầm mồ-hôi, như có vẻ nghĩ-ngợi điều gì, rồi mới chịu trả lời:

- Không! tôi chỉ biết một điều là sau ngày tỉnh-thành bị quân phiến-loạn chiếm-đoạt, tình-hình trong tỉnh trở nên nghiêm-trọng.

Thống-tướng Cua-Xy dằn từng tiếng:

- Hết sức nghiêm-trọng!

Rồi ông giải-thích:

- Hiện nay ta không có một cơ sở để duy-trì sự an-ninh ở trong tỉnh. Thành Vĩnh-điện đã thất thủ. Chánh-quyền địa-phương đã tan-rã, khắp các nơi bọn thân-hào lại nổi lên như bươm-bướm. Họ chế-tạo vũ-khí, chiêu-mộ binh-sĩ, rồi xổ-trống dựng-cờ, mỗi người chiếm-cứ một vùng nhất-định y hệt như các vị phiên-hầu ở trong thời-kỳ Trung-cổ. Theo những tin-tức mới nhận được, tiến-sĩ Trần-văn-Dư đóng tại Dương-yên và kiểm-soát cả huyện Hà-đông; ấm-sanh Nguyễn-Thành khởi-nghĩa ở vùng Quế-sơn, Thăng-bình, tú-tài Lý-thừa-Trạch xây-dựng căn-cứ ở tại vùng Hội-an; phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu lãnh-đạo vùng Điện-bàn; phó-bảng Phạm-thanh-Lương nắm vùng Duy-Xuyên; ngự-sử Huỳnh-bá-Chánh hoạt-động ở hạt Hoà-vang; còn tú-tài Trần-Thừa một mình lại xưng-hùng xưng-bá ở miền Đại-lộc. Đó là chỉ kể những hạng người kiệt-hiệt, có thế-lực và uy-tín đối với dân-chúng. Còn những thứ giặc cỏ thừa cơn nước đục để làm loạn và bóc lột nhân-dân thì kể làm sao cho xiết. Nếu không sớm diệt-trừ cái nạn cường-hào ấy thì về sau nầy ta sẽ gặp không biết bao nhiêu là tai-hại.

Thống-tướng Cua-Xy trình-bày chưa hết thì nghỉ một hồi để lấy thùng quẹt và xì-gà ở trong túi ra. Thấy cơ-hội thuận-tiện, trung-tá Bét-Nô bèn hỏi một cách trịnh-trọng:

- Xin Thống-tướng cho biết những hậu-quả ấy?

Vui cười, tỉnh-táo, thống-tướng Cua-Xy nói tiếp:

- Có nhiều thứ hậu-quả khác nhau: hậu-quả thứ nhất là uy-tín và thể-diện của nước Pháp sẽ bị tổn-thương; hậu-quả thứ hai là chính-phủ Nam-triều sẽ bị suy-yếu dần dần; hậu-quả thứ ba là các họ đạo ở trong tỉnh sẽ bị uy-hiếp.

Trung-tá Bét-Nô nghe tới đấy, hình như chưa hiểu rỏ, đứng dậy chất-vấn một lần nữa:

-Xin Thống-tướng cho biết mấy đội thủy quân ở tại Đà-nẳng không có thể can-thiệp được hay sao?

Với giọng lần nầy nửa khôi-hài, nửa hòa-nhã, thống-tướng Cua-Xy tiếp- tục giải-thích:

- Không được. Nhiều sở đạo hẻo-lánh ở về miền sơn-cước đã bị văn-thân tiêu-diệt hoàn-toàn. Tại sở đạo Tân-an, thuộc huyện Quế-sơn, hầu hết các tín-đồ không chịu bước qua cây thánh-giá đã bị dân chúng bắt trói xắp kẻ đem liệng xuống sông. Tại sở đạo Phú-bình, cũng thuộc hạt Quế-sơn, tất cả con chiên đã tuẩn-tiết một cách thê-thảm, vì không muốn để cho văn-thân ghi hai chữ "tả-đạo" vào trên má. Hiện nay, nuôi-dưởng bởi các vị lãnh-tụ cực-đoan, phong-trào "Bình Tây sát tả" đương bành-trướng ở miền thôn quê, nếu ta không đề-phòng gấp rút, một khi tất cả các đường giao-thông bị cắt đứt, ta có muốn đối-phó thì cũng không thể nào kịp!

By giờ trung-tá Bét-Nô mới thấy rỏ tình-thế khó-khăn của cha-sở May-Da tại nhà chung Phước-thượng và cha sở Bờ-Ruy-De tại nhà chung Trà-kiệu, nên không còn  hằn-học như trước nữa, ôn-tồn trung-tá nhìn vào mặt vị chủ-súy mà hỏi xin chỉ-thị:

- Sự thể đã như vậy! thống-tướng dạy tôi nên hành-động thế nào để tránh hậu-hoạn.

Thống-tướng Cua-Xy đứng dậy trả lời một cách cương-quyết:

- Ngài phải lập-tức mở một cuộc hành-binh để chiếm-đoạt lại tỉnh thành Quảng-nam và cho một phân-đội lưu-trú thường-xuyên tại đây.

Dặn-dò xong-xuôi, thống-tướng Cua-Xy bắt tay trung-tá Bét-Nô thật mạnh, rồi quay gót trở vào tư-thất.

Ngày mười một tháng tám năm 1885, người ta thấy hai tiểu-đội thủy-lục-quân khỉ-hành từ Huế để mở cuộc chinh-phạt. Họ lên thuyền tại cửa Thuận-an theo con đường bể, vượt qua cửa Tư-hiền, đổ bộ lên Lăng-cô, rồi mượn đường Hải-vân mà vào Đà-nẳng. Tới đây họ phải thuê ghe mành vào Hội-an vì con đường thiên-lý bị văn-thân kiểm-soát. Tại nhiều nơi, sĩ-dân lấy trái mù-u, hoặc lấy gióng mây rải trên công-lộ và cho quân-đội mai-phục ở hai bên. Khi trông thấy người Pháp gần tới, dân chúng kéo ùa ra khiêu-chiến, rồi giả thua bỏ chạy, nhử kẻ thù vào chổ hiểm-yếu để mở cuộc tấn-công thật sự. Những trận giao-tranh ấy, mệnh-danh là "giặc mù-u" hay "giặc gióng" thường không đem lại tổn-thất nặng-nề cho Pháp nhưng cũng làm cho họ phải e-dè, kiêng-nể. Cuộc giao-tranh thí-nghiệm ở Cẩm-lệ lần đầu tiên đã cho họ một bài học khá đau-đớn. Bị tấn-công bất-ngờ, lính Pháp phải dồn vào khúc cầu eo hẹp, vấp phải những trái mù-u mới hái còn nhớt-nhát như lá mồng-tơi, bổ té la-liệt, kẻ nằm sấp người nằm ngửa trông như một bầy cá trong giỏ. Tức thì dân chúng ở hai bên bờ sông dùng ná mọi bắn tua-tủa tên có tẩm thuốc độc, làm cho một số ít binh-sĩ thiệt mạng. Trận giặc Cẩm-lệ không có tiếng vang dội lớn lao trong lịch-sử và cũng không gây nên một ảnh-hưởng sâu rộng trong hàng ngũ viễn-chinh, nhưng đã giúp ích rất nhiều cho văn-thân trong việc trì-hoãn cuộc tấn-công chớp-nhoáng của quân địch. Một khi đổ-bộ tại Hôi-an, binh-sĩ Pháp còn phải mượn con lạch Thanh-hà để chuyên chở vật hạng, rồi mới kéo về phía tỉnh-thành Quảng-nam. Bây giờ họ tiến lên một cách dễ-dàng, không phải phí một viên đạn nhỏ nào hết, vì mấy ngày về trước Nguyn-duy-Hiệu đã hạ lệnh cho quân-đội và nhân-viên rút lui về các miền điạ-phương, thành-trì công-sở đều bỏ ngỏ. Cuộc chiếm đóng vĩnh-viễn đã xảy ra một cách hòa-bình và yên-lặng.