Những bước gian-truân


Thuở xưa, ở miền sơn-cước, nhất là ở hai hạt Thăng-bình, Quế-sơn, dân-chúng chỉ sống về nghề đi trầm đi dác trong dãy núi Trường-sơn. Quanh năm họ phải lên núi,  chỉ trở lại miền đồng-nội một hai lần vào những tiết xuân, hạ, thu, đông. Có nhng năm sm hơn, vào thượng-tuần tháng sáu, họ đã chuẩn-bị hành-lý, tập-hợp lại thành từng đoàn một, bắt đầu tạm-biệt miền rừng già u-ám để trở về với ánh-sáng miền đồng-nội. Họ rất đỗi vui mừng khi ra ti vạn Phước-sơn, một thị-trấn nho-nhỏ,  náo-nhiệt nằm ngay tại ranh-gìới giữa miền kinh và miền thượng. Họ dừng bước tại đấy một vài ngày để xem-xét giá-cả, thăm viếng bà con, giao-thiệp với bọn Hoa-thương. Một khi tiêu-thụ xong các thứ lâm-sản, họ chia tay nhau để trở về quê-quán. Khi vừa về nhà, họ đã thấy sức-khỏe tiêu-tán, tay chân rụng-rời, thân-hình uể-oả, chưa có đủ thì-gi để dùng cơm nước, để tỏ niềm thân-mật với v con, họ mở chiếc khăn gói, lấy hết tiền bạc vứt ra trên đầu giường, rồi nằm lăn ra ngủ say-sưa hết ngày này cho đến ngày khác. Họ không có thể kể lại cho thân-bằng, cố-hữu nghe nhng việc đã làm, nhng điều đã trông thấy ở nhng nơi tuyệt-vời xa tít, một xứ nhiều phong-lan cực-kỳ diễm-lệ, có giống mọi ăn người, có nhng bụi ngãi linh-thiêng, nhng cây quế rừng bí-hiểm. Họ không có thể nhớ lại một cách rõ-rệt những gi phút hiểm-nghèo khi phải đi lạc vào những làng mọi có đuôi, khi phải vượt qua con sông Nước-Mỹ trên một sơi mây song dài tăm-tp, bên dưới lô-nhô lúc-nhúc cá sấu . H trải qua những đêm rùng-rn ngoài tri, bên cạnh một ngọn lửa trại, khi phải gióng thinh-la suốt năm canh để chiến-đấu với nhng bầy chó sói táo-bạo, những bầy cọp ham mồi, những bầy tê-giác hung-hăng hay nhng bầy voi lì-lm. Họ là những người lính m trung-thành, nhng người phu đồn-điền tận-tụy, những tay th rng vô-tư. Họ không muốn kêu ca, bàn-tán gì hết trước khi thôn xóm tr lại nếp sống bình thưng, dân-chúng bt xôn-xao, cây c bt hân-hoan, chim-chóc bt líu-lo. Chỉ có bọn các-lái là hơi bận-rộn một chút mà thôi.Trong lúc mọi người còn đương ngh-ngơi để bồi-bổ sức-khỏe, bọn các lái còn phải lo tổ-chức nhng cuộc thám-hiểm khác tốn kém và khó nhọc hơn. Họ phải chạy tiền bạc, phải sắm vật-hạng, phải mộ thêm chiến-sĩ, nhất là phải dàn-xếp công việc cho tất cả mọi gia-đình. Một khi dụng-cụ, lương-thc đã lót vào giỏ xong xuôi, phu-phen đã triệu-tập đông-đủ, họ giết trâu bò để cúng tổ-tiên, ăn nhậu linh-đình. Cuộc vui còn đương kéo dài thì lệnh khỉ-hành đã vang-dội khắp nơi. Miễn-cưỡng họ phải tạm gác bữa tiệc tiển-đưa để ra đi. Họ dừng gót lại một vài phút, nói vài lời từ-giả hàng-xóm, yên-ủi vợ con, rồi ngậm-ngùi tiến lên trước đi về những miền xa-lạ, những x còn nguyên-vẹn, mơ-hồ huyền-ảo. Chỉ trong chốc lát, đoàn người tiên-khu ấy đã sp thành hàng dài diễn-nh trên những b đê khúc-khủy. Hình ảnh của họ lẩn-khuất dần dần sau những cụm rừng xanh, trong nhng đám sương m. Làng xóm lại trở nên tiêu-điều, vắng-vẻ, chẳng khác một buổi chiều tà trong vùng sa-mạc.

Vào trung-tuần tháng sáu năĐinh-hi, phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu, cử-nhơn Phan- bá-Phiến, ngự-s Huỳnh-bá-Chánh bị thất-trận tại đồn Cỏ-may, phải chạy về nương-náu tại làng mọi Cõng-vang, quận Hiệp-đức. Được ít ngày bọn thượng-du đã dò biết tình-thế, tỏ ra ương-ngạnh, không chịu cung-cấp đủ số gạo nếp như thường lệ. Sự nghi-kỵ mỗi lúc mỗi trầm-trọng hơn. Các vị lãnh-tụ Nghĩa-hội phải lén từ-giả miền rừng núi, vượt sông Thu-bồn tại làng Bình-kiều, băng qua làng Nhơn-trạch, và một buổi sớm, trong lúc gà rng đương gáy rộn-rã khắp nơi, họ đã ti làng Tân-an, một ấp khá trù-mật, ngay tại giao-điểm ba con sông Trầu, sông Tranh và sông Tiên. Lúc bấy giờ dân-chúng đã ra ngoài đồng làm lụng. Con nít dt trâu gặm cỏ trên nhng b đê khúc-khuỷu chìm-đm trong lp sương-mù rất quen thuộc ở miền sơn-cước trong buổi bình-minh. Ngươi ln, hầu hết là đàn-bà, đương lom-khom nhổ cỏ trong những khoảnh ruộng lầy có lúa bát-ngoạt mọc lên xanh tươi mơn mn. Một người con gái, vào tuổi trăng tròn, đng dậy nhìn khp bốn bên để quan-sát tình-hình. Đưa tay lên mân-mê cái khăn xéo bng vải hồng-mao màu trắng phủ kín hết chùm tóc như một hình tháp, cô dùng cánh tay thứ hai xăng hai ống quần vải ú lên để hở nhng chiếc đùi màu ngà voi trông rất ngoạn-mục. Chưa thấy vừa ý, người thôn-n còn lấy vạt áo sau gấp lại, giắt thật chặc vào lưng quần cho khỏi vấy bùn,  rủ một lượt vạt trước cho sạch những giọt nước li ti rồi khoan-thai dùng tay buộc lại thành một cái gút treo lơ-lng ngoài chiếc yếm-thao. Nàng làm duyên làm đỏm như vậy không biết bao nhiêu lần trong một ngày. Vài khi, nàng còn v ly cái đãy, lấy cau trầu đã têm sn, thuốc Thanh-sơn đã xt thật nhỏ mời nhng người bạn còn mãi chăm-chú vào công việc đồng-áng bên cạnh mình. Mọi người trao-đổi với nhau một vài câu chuyện phiếm, cười oà lên trong giây lát, rồi cúi xuống làm việc lại.

Bữa nay, khi ngước nhìn những dãy núi cao chót-vót trùm lên vùng thung-lũng Thảo-huy, Thảo-đế mênh-mông mọc đầy cỏ may, không rỏ vì đâu một mối cảm-xúc bao la tràn ngập cả tâm-hồn, nàng gởi lên không gian, núi rừng tâm-sự của mình:


Vì ai nên nỗi sầu nầy?

Hái rau quyển-nhỉ khôn đầy giỏ nghiêng.


Chưa dt li thì nàng đã nghe văng-vng tiếng gọi:

- Cô N

Va ngoảnh lại nàng đã thấy phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu, hoàng-giáp Phạm-như-Xương và cử-nhơn Phan-bá-Phiến trên một cái bờ đê khá cao đang tiến về phía mình. Nàng luýnh-quýnh vì ngạc-nhiên, vì mng r, nhưng tc-khc đã trấn-tỉnh, bước thng lên b đê để tiếp chuyện.

Phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu hỏi trước:

- Mấy ngày gần đây tình-hình trong thôn xóm có được yên-ổn hay không?

Suy-nghĩ một chặp, cn môi dưới vi hàm răng lóng lánh hột huyền, nàng mĩm cười duyên-dáng, rồi khẽ trả lời:

- Từ một tháng nay, dân-chúng đã lên hết trên núi Mọi để tìm trầm, tìm dác, chỉ có đàn bà con nít lại nhà coi việc nột-trợ, ta c đi về rồi sẽ tính chuyện.

Nói xong, nàng để cho hai vị văn-thân đi trước, còn mình lủi-thủi bước theo sau. Ra khỏi cánh đồng, họ len vào con đường hẽm, cuối cùng họ trông thấy một cái gò khá rộng, lau-lách um-tùm. Bên kia gò đất này là một dãy núi chưa có tên trên hu-ngạn sông Thu-bồn. Đỉnh cao nhất là núi Kẽm, ở Trà-linh, núi Qup Trung-phước, núi Chúa  Mỹ-sơn, núi Trà-kiệu ở Duy-xuyên, hòn Tàu tc là Tào-sơn  Gia-thượng, hòn Nồi-bầu tức núi Ông-bộn, ở An-tây. Ta tạm gọi hệ-thống núi non ấy là chòm Quế-lãnh. T nhng thung-lũng của dãy núi danh-tiếng ấy, một cái khe tục gọi là khe Cái chảy ra trong veo, trong vắt, uốn khúc ở dui chân đồi, ngay bên cạnh ba người chiến-sĩ. Tiếng nước róc-rách mãi trong nhng lùm sim, lùm móc đương khai-hoa, nhng bụi vải dây đương chín trái, làm cho cảnh vật thêm phần hoang-sơ hiền-hòa. Phương chi mt tri t phương đông vừa thắp sáng những chóp cau, ngọn mít trong thôn xóm, đánh thc nhng bầy chim rừng đương ngái ng. Những con gà trống trong nhng khu vườn xa xa tỉnh giấc, đập cánh gáy lên vang-vọng. Sơn-thủy hoang-vu trong buổi bình-minh miền sơn-cước, làm người lữ-khách bồn-chồn, thổn-thức. Người thôn-nữ ngồi trên một tảng đá đăm đăm nhìn các nhà lãnh-tụ Cần-vương rồi nói:

- Ở vùng này cũng vẫn có những tên thám-t của Nguyễn-Thân đi qua đi lại. Tên Hồ-Pháp, một cọng-sự đc-lc nhất của hắn có ghé lại đây một ngày, dặn-dò nhng bộ-hạ ở trong thôn-xóm, rồi vượt sông Thu-bồn, qua làng Đông-an, chưa thấy trở lại.

Hoàng-giáp Phạm-như-Xương ngt li:

- Dân-chúng ở xã Tân-an đều vắng mt, ta có thể lưu-chân vùng nầy một thời-gian để chờ cơ-hội hay không ?

Người thôn-n trù-tr, chưa kịp trả-lời thì phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu lên tiếng:

- Không được! dẫu vùng này có an-toàn đi na, mà nhà ca người ta đều vô chủ, đàn ông thì tận trên rừng, trên rú lâu ngày, chỉ có đàn bà con nít lại giữ trại, ta nên tìm một nơi khác để tạm-trú thì tốt hơn.

C-nhơn Phan-bá-Phiến từ nãy đến giờ vẫn ngồi im-lặng, nhìn đàn chim xanh bay sp đụng vào một cái lưới rập cu treo lơ-lng trên không, giật mình quay về phía mấy người bạn đồng-sự nói:

- Muốn đi xuôi về miền đồng-bằng thì phải bắt liên-lạc trước. Vả lại hiện nay việc canh-phòng mạn duới có vẻ nghiêm-nhặt lm. Ta nên vào trong rng mà tạm lánh một thời-gian, ch triệu-tập đại-hội xong, sẽ liệu một phương-sách khác.

Mọi người đồng ý. Dưới s hướng-dẫn của người thôn-n dịu-dàng có bước chân thoăn-thot, mấy nhà cách-mạng Cần-vương đi ngược giòng Khe-cái, trèo qua nhng tảng đá khổng-lồ, vượt qua những cánh rừng hoang-vắng. Chng bao lâu họ đã ti một cái hang cọp khá rộng rãi về địa-phận làng Tân-an. Thấy ở đây có nhiều hòn đá ong bng phng, có thể nhất-thời biến thành những cái giường thiên-nhiên khá tốt, họ dừng bước, mỗi người ngồi tréo mảy trên một hòn đá mà tán chuyện thân-mật với nhau. C-nhơn Phan-bá-Phiến, có tính hay bông đùa, quay mặt về phía người thôn-n va cười va nói:

- Đây là một nơi thng-cảnh mà thượng-đế đã dành riêng cho vị chủ-súy của chúng ta trong bước đường cùng. Chúng ta sẽ tạm-trú ở chốn sơn-thủy này một thời-gian khá lâu. Mỗi một người của chúng ta sẽ in dấu-vết cũng như hình-ảnh của mình trên cảnh-vật. Chúng ta là những người không đáng kể, sống tạm-bợ như con phù-du trước bóng đèn, như làn mây trước cơn gió, nhưng chủ-súy của chúng ta là người sẽ còn sống mãi trong lòng dân-chúng. Tôi chắc về sau nầy dân-chúng sẽ có cơ-hội để phê-phán hành-động của những vị anh-hùng cái-thế. Vì vậy tôi đố cô Nỡ biết được người ta sẽ lấy cái tên gì mà đt cho cái thng-cảnh lịch-sử nầy.

Nhanh-nhẹn, người thôn-n đng dậy chắp tay trả-lời:

-Thưa quan án-sát, chủ-súy của chúng ta giữ chc hường-lô t thiếu-khanh ở trong triều-đình, thì về sau tất-nhiên người ta phải gọi cái hang nầy là hang Ông Hường ch sao?

Mọi người vổ tay khen phải, rồi cùng nhau dùng bữa cơm sáng, mang sn theo trong nhng chiếc mo lột buộc kín trong người lúc đi đường. Cơm nước xong, họ lại ngồi tán-chuyện một hồi lâu. Ai nấy cũng cảm thấy khoan-khoái trong lòng sau một cuộc hành-trình khó-khăn, nguy-hiểm. Phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu nhìn về phía nam thấy núi non trùng-điệp, nhìn về phía bắc thấy sương-mù che khuất cả đường chân tri. Bất-giác, vị thủ-lãnh Cần-vương hồi-tưởng lại những ngày tạm-trú tại kinh-đô, nhng cuộc hội-họp bí-mật ở trên b Hương-giang, có đủ mặt các vị quan-lại trung nam bắc tham-d, nhng buổi ăn thề, những li cam-kết trước gi chia tay để mỗi người tr về tỉnh nhà tổ-chức cuộc khởi-nghĩa. T đấy sự giao-thông bị cắt đt, s phản-bội của nhiều đồng-chí đã làm cho cuộc kháng-chiến bị cô-lập, cuối cùng đưa ti sự thất-bại hết sức bi-đát. Nghĩ ti nông-nỗi ấy, phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu lại thấy tấm-tức trong lòng, vì bao nhiêu s-nghiệp của các tiền-triều, từ Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, bao nhiêu công-trình oanh-liệt của các vị anh-hùng liệt-sĩ, từ Lý-thường-Kiệt, Trần-hưng-Đo, Lê-Lợi, Nguyn-Huệ chỉ trong giây lát đã bị đổ vỡ tan-tành. Cái mộng tái-tạo giang-sơn bây gi đã thành ra mây khói. Để mặc cho mấy người bạn đồng-hành trò chuyện với nhau, vị thủ-lãnh nghĩa-hội ngồi suy-nghĩ vẩn-vơ, hết kinh-thành Phú-xuân lại đến núi Nùng, sông Nhị, đâu đâu người và vật cũng bày ra mơ hồ huyền-ảo như cảnh thần-tiên. Trong lúc cảm-hứng, nhà cách-mệnh sông Thu lây bút giấy ra viết bài "Tng-long hồi ký" như sau:


Kỷ độ phiền ba, kỷ độ kinh,

Long-thành hồi-cố bất thăng tình.

Long hồ dĩ biến tam triều đinh;

Ngưu đẩu phân tranh bá chiến thành.

Nồng-lãnh phù-vân kim cổ sắc;

Nhỉ hà lưu-thủy khốc ca thinh.

Cầm hồ đoạt sáo nhơn hà tại?

Thùy-vị giang-sơn tẩy bất bình.


T đấy mỗi ngày hai lần, người thôn-n lên xuống miền núi để tiếp-tế lương-thc cho ba vị cách-mạng và luôn tiện để làm cái gạch nối giữa đảng viên Cần-vương vi các vị thủ-lãnh.

Nghĩa-hội bây giờ đã tan-rã gần như hoàn-toàn. Một số lớn các đồng-chí đã ra xuất-thú tại nhà quan tế-tửu Nguyễn-đình-Tu tại làng Suối-đôi, một số nữa bị bắt và giải vào Quảng-ngãi. Nhng quan-lại ngày trước đã giúp cho phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu tổ-chức vùng Quảng-nam thành một quốc-gia thì nay đã bỏ hàng-ngũ mà tìm chỗ trốn tránh để nghe-ngóng tình-hình, chi thời-cơ.

Vào hạ tuần tháng tư năm Đinh-hi, phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu mở đại-hội tại khe Nước-giê, trên núi Ông Bổn. Thắng cảnh nầy chỉ cách chiếc động thiên-nhiên có năm bảy cây-số theo đường chim bay, nhưng đường-sá vùng nầy rất hiểm-trở. đây có một cái thác lớn cao ti chng ba chục thước tây, nước chảy lâu đời đã biến rừng rú thành ra một cái hồ sâu thẳm, xinh đẹp. Nước nguồn từ trong dãy Quế-lãnh chảy ra, mạnh như một giòng sôngi vào mt hồ, bắn ngược tung tóe, tạo ra tiếng ầm ầm đầy uy-lực vang dội núi rừng; đôi khi ánh-sáng vầng thái-dương chiếu thẳng vào giòng thác đang rơi tạo thành chiếc cầu vồng ngoạn-mục. Các nhà cách-mạng d đại-hội, ngồi san-sát với nhau trên nhng tảng đá tạo-hóa bày la-liệt chung quanh mt h, có thể phóng tầm mắt nhìn cảnh-vật khp t bề: hòn Tàu nm hiền-lành ở phía đông, hòn Kẽm nguy-nga, lộng-lẫy ở phía tây, núi Nhón, núi Răng-cưa ở phía nam, núi Thiên-ấn, núi Bàn-cơ cao vòi-vọi ở phương bắc,i dừng chân của những vị Hoàng-thạch, Xích-tùng trước khi về miền Tiên-hội, trên b sông Tiên. Cuộc đại-hội đã thất-bại vì trong hàng ngũ văn-thân, chỉ có mặt thương-biện Phạm-trọng-Thảng, tú-tài Cao-hữu-Chí làng An-tây, c-nhơn Bùi-Tích, tri-phủ Nghĩa-hội, trú-sở làng Phước-cang, phủ Thăng-bình. Các phủ-hội, huyện-hội và các vị tướng-lãnh khác đều vắng mt.Trong lúc mọi người đương trò-chuyện thân-mật, kimiểm công-tác và trù-định kế-hoạch để cứu-vãn tình-thế thì đồng-chí Lê-Trước, tục gọi là Cai Trước t dưới đồng-bằng hấp-tấp chạy lên nói với một giọng hết sức cương-quyết:

- Chúng ta phải dời địa-điểm ngay tức-khc để bảo-vệ tính-mạng cho chủ-súy. Bọn mật-thám của Nguyn-Thân đã dò biết được sào-huyệt, hiện nay hầu hết các ngã đường đã bị đối-phương mai-phục, chúng ta khó lòng tìm ra lối thoát.

Trong thi-kỳ vua Hàm-Nghi còn đương tại vị, Lê-Trước là chánh-tổng Thuận-an, phủ Thăng-bình. Một hôm, khi nhận được cái trát của viên tri-phủ Thănh-bình về việc đi lùng nã các nhà cách-mạng Cần-vương, ông liền xé tờ công-văn ra thành tng mảnh nhỏ, ném vào mặt tên lính lệ mà nói rằng:

- Quan-phủ của anh có muốn bán nước cho Pháp thì c làm một mình, được thì nh, thua thì chịu; còn thng nầy chỉ biết đem thân ra phụng-sự cho tổ-quốc.

Rồi đuổi ngay tên lính lệ ra khỏi nhà. Ông đi tìm phó-bảng Nguyn-duy-Hiệu tại An-lâm và từ đấy ngày đêm theo phò vị thủ-lãnh Cần-vương. Ba nay đi dò xét tin-tc các phủ huyện, ông nghe nói toán quân Quảng-nghĩa rất quen thuộc trong việc đánh gic miền núi, đã lẻn vào trong rừng-rú và tiến dần về phía hang ông Hường, ông liền chạy về Xai-nước-Giê để phi-báo. Tức thì Lê Trước hướng-dần hai nhà cách-mạng lên đường, trèo non vượt suối, đi về ngã đèo Răm, thuộc địa-phận làng An-tây, lọt hẳn ra ngoài trùng-vi của lính triều-đình. Ban đêm, tiếp-tục cuộc hành-trình, họ băng qua đèo Đá-bon, ở làng Võ-xá, và lúc na đêm, đuối sức, tiều-tụy, họ đã ti làng Gia-các, trong khi gà rng khp mọi nơi bt đầu gáy sáng. Dng bước trên b sông Ly-ly, một con sông phát-nguyên cách đấy không xa đổ về sông Trường-giang, họ lấy khăn xéo ra lau bt nhng lp sương mù còn bám vào đầu tóc, áo quần. Hơi đất ở miền sơn-cước bốc lên nghi-ngút làm cho cảnh-vật mơ-hồ như trong giấc mộng. Ở trên cao, phía đèo Le, phía hòn Tàu, mnh trăng hạ-huyền còn ng chơi-vơi trên nhng làn mây xám bay nhanh về nơi vô-định. Thời-tiết biến-chuyển báo-hiệu một cơn mưa rào sắp đổ xuống trên cánh đồng hoang-vu, uy-hiếp cả người lẫn cảnh vật. Lê-Trước ngồi trên một tảng đá, châm điếu thuốc Thanh-sơn màu nâu sẫm, hít phì-phào vài hơi, rồi quay về phía cử-nhơn Phan-bá-Phiến nói khẻ:

- Bây giờ ta không nên đi vào trong thôn xóm, vì làng Gia-cốc chỉ cách nha Quế-sơn chng năm sáu cây số mà thôi, ta nên đưa chủ-súy vào một chỗ an-toàn hơn, rồi sau sẽ tùy cơ ứng-biến.

Phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu nghe câu chuyện, muốn biết rõ hơn:

- Không vào trong dân-chúng thì biết đi lánh ngã nào?

Lê-Trước liền đng dậy phúc-đáp:

- Mấy năm trước tôi đi săn nai làng Phước-long, nhơn hăng-say đuổi theo con mồi, tôi lạc vào địa-phận làng Gia-các và có tìm ra một cái động hết sức kín-đáo, tôi sẽ hướng-dẫn chủ-súy lên tạm-trú tại đấy, chờ khi nào liên-lạc với các đồng-chí ở địa-phương, ta sẽ tiếp-tục cuộc hành-trình.

Phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu gật đầu rồi cùng đoàn tùy-tùng, nhân lúc ban đêm, đi về phía chòm Quế-lãnh. Sau này dân-chúng cũng gọi chỗ nhà cách-mạng Cần-vương tạm-trú trên bước đường hoạt-động là "hang ông Hường" y hệt như cái động ở tại làng Tân-an vậy.

Ba ngày sau, phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu lại cùng nhóm người thân-tín t-giã miền rừng núi đ xuôi miền duyên-hải. Họ vượt qua đèo Đá-mái một cách nhọc-nhằn, khó-khăn vì lối đi nhiều khúc đã bị cây-cối xâm-chiếm hoàn toàn. Một buổi sớm, mọi người đã hạ-sơn, và chờ cho ti khi trăng mọc, mới dám len-lỏi vào làng Trà-kiệu, trên b sông Thu-bồn.

Gặp lúc tri mưa dữ-dội, phải vào ẩn núp trong lăng Cao-hoàng-hậu, hai nhà thủ-lãnh Cần-vương ngồi lúp-xúp trong nhà bia, còn Lê-Trước đng ngoài bình-phong để canh-gác. Trong lúc chờ mưa dứt, Phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu nói chuyện với cử-nhơn Phan-bá-Phiến:

- Hồi xưa  vùng nầy có một người đàn bà tộc Đoàn góa chồng, thường ngày hay cùng chúng bạn, những người thôn-n, xách giỏ ra ngoài bùng dâu để tìm thc-ăn cho những nong tằm sp lên bủa. Vô-tư, những người thôn-nữ cất tiếng hát hà hát hỏng, dư-âm vang vọng cả bầu trời, lay chuyển cả một vùng cỏ cây bao-la, man-mác. Vào lúc ấy, một vị hoàng-tử uy-nghi, lộng-lẫy trong bộ đồ triều-phục tại miền thượng-du, theo giòng sông Thu-bồn, nhẹ-nhàng xuôi về miền hạ-ban trên một chiếc thuyền rồng. Tiếng hát của người góa-phụ từ trong bùng dâu theo gió vang xa hòa với sóng nước lao-xao làm rung-động cõi lòng vị hoàng-tử:


Vua tôi đi ng thuyền rồng,

Cảm-thương phận thiếp góa chồng lênh-đênh.


Vị hoàng-tử trên thuyền rồng là chúa Sãi-vương, con th ba của chúa Gia-Dũ đương ng-trị tất cả miền đàng trong của Kinh-đô Phú-xuân. Giữa cảnh trời mây nước bao-la thi-vị, đấng hoàng-tử cảm-kích sâu xa và ra lệnh cho chiếc thuyền rồng ngừng tay chèo tay lái tại bến sông. Mọi người ngưởng mt trông lên bùng dâu thì trông thấy một người con gái bước đi khoan-thai gia nhng cành dâu không cao hơn vài thước mộc. Vị hoàng-tử chú-ý thấy hễ mỗi khi người đàn bà tiến lên một bước thì đám mây ngũ- sc trên tri, kết-hợp lại thành một cái táng xinh đẹp cũng di-chuyển theo để che cho người ly-phụ khỏi bị ánh nắng gay-gt của vầng thái-dương. Nhng người thôn-n khác cũng đương hái dâu trong bùng lại không được hưởng diễm-phúc ấy. Hoàng-tử cho gọi người góa-phụ xuống mạn-thuyền. Sau khi trao đổi vài câu-chuyện để cho một bậc đế-vương nơi cung-cấm và một tiên-nữ ở chốn thiên-nhiên có thể thông-cảm với nhau, hai người bắt đầu chén-thù chén-tạc. Nhà vua nhìn vào mắt người ly-phụ và nói nửa như nghiêm-trang, na như bn-ct:

- Rỗ chằng rỗ chịt, rỗ chín mười phần.

Không mảy may xao-xuyến vì câu thách-đố chân-thành ấy, người góa-phụ đứng dậy khép-nép, nhanh-nhẹn trả lời:

- Yêu nước, yêu nhà rồi yêu thiên-hạ.

Từ đấy, người góa-phụ ở luôn trong thuyền rồng, không kịp từ-giả cha mẹ những người bạn gái thân để về kinh-đô đóng vai-trò một vị quốc-mẫu. Khi tạ-thế, thể theo nguyện-vọng của bà trong lúc bình-sinh, nhà vua đưa thi-hài về yên-nghỉ tại nơi quê-quán.

Phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu kể xong câu chuyện của Cao-hoàng-hậu thì bên ngoài mưa đã nhỏ hột, vầng trăng hạ-huyền đã xé tan nhng đám mây hc-ám, gi xuống nhân-gian vài tia-sáng hiền-lành, êm-dịu. Lê-Trước thấy trời đã tạnh, bước vào giục-giã hai vị thủ-lãnh lên đường . Lúc bấy gìờ nhà cách-mạng sông Thu mới ra đng trước mộ, chắp hai tay lại, cúi đầu khấn-vái lâm-râm:

- Bữa nay, ngày hai mươi tháng tư năm Đinh hi, thần ghé lại đây trên con đường về quê-quán. Hoàng-hậu có linh-thiêng, xin phò-hộ cho tổ-quốc được mau thoát ra khỏi ách nô-lệ, dân-tộc Việt-nam có thể tránh khỏi cái họa diệt-vong.

Rồi ba người âm-thầm vượt sông Thu-bồn dưới ánh-sáng l-m của trăng sao trong khi dân-chúng hai bên thôn xóm vẫn còn say-sưa trong giấc ngủ.