Nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân


Vào hạ-tuần tháng giêng năm 1914, chiếc tàu thủy Đại-Nam nhổ neo rời hải-cảng Sài-gòn, sau nhiều ngày sóng gió, chòng chềnh trên mặt nước, lại ghé vào thành-phố Đà-nẳng, đậu ngay bên trong bán đảo Tiên-sa. Hai nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân và Trương-bá-Huy lên bờ, tạm nghỉ một đêm tại trạm Hà-tân, rạng ngày ba mươi tháng chạp năm quí-sữu, lại theo mấy tên lính tập lên xe lửa vào Hội-an. Hai bên đường rầy, tiếng gà-oác kêu inh-ỏi, tiếng pháo-lói nổ lưa-thưa, dân-chúng khắp nơi đương tấp-nập tham-dự buổi chợ tất-niên được tổ-chức chung-quanh những ngôi đình-thị trang-hoàng lộng-lẫy hay dưới chân những cây tre nêu mới được dựng lên cao vòi-vọi. Trước lễ giao-thừa, thôn-xóm được khoát một bộ áo mới với những đường làng được giẫy cỏ nhẵn-nhụi, những giếng đất được quét rửa sạch-sẽ, những rào giậu được cắt xén gọn-gàng, những liễn-đối trưng-bày chói lọi hai bên cổng. Chiều nay, cảnh vật sẽ được điểm-tô thêm bằng những tiếng trống, tiếng mõ gióng lên rộn-ràng, những hồi chuông ngân-nga êm ả. Không quản gì đến khung-cảnh tưng-bừng, náo-nhiệt khắp miền thôn-quê, chiếc đầu máy nặng-nề thô-bỉ vẫn cứ chạy ì à ì ạch trên vùng duyên-hải, khi thì vượt qua những bãi cát dài tăm-tắp, khi thì dựa theo mé sông Đế-võng uốn khúc giữa những rừng thông âm-u, bí-hiểm. Mãi tới gần đứng trưa con tàu mới vào ga Hội-an, ngay bên cạnh nhà lao-xá.

Nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân bước xuống tàu, nhìn qua đám người già có, trẻ có  ngồi chầu-chực buồn-rầu bên vệ đường với những món quà Tết cho bà con thân-thuộc đương bị giam giữ. Lặng lẽ, ông theo mấy tên lính áp-tải tiến vào trong ngục-thất. Được trở lại quê-hương sau nhiều năm cách-biệt, ông sực nhớ ngay đến thời-kỳ mới khởi-hành vào Côn-đảo, đến tổ-quốc còn đương chìm-đắm trong khói lửa, đến song-thân già-nua còn đương nhọc-nhằn, lo-lắng vì cơn gia-biến, bất-giác hai giọt lệ anh-hùng ứa ra rồi chảy dài trên gò má. Ông ngồi một mình trong phòng tối, ngâm đi ngâm lại hai bài "Côn-sơn tức-cảnh" mà ông làm ngoài côn-đảo. Bài thứ nhất sáng-tác sau ba năm lưu-đày:


Phương-châm vị định thốn tâm huyền,

Đa tích nhiệt-thành dĩ hữu niên.

Bất đáo Côn lôn chân lạc địa;

Yên-tri hoàn-hải đại toàn thiên.

Ngô đồ lạc lạc hưu đa thán;

Tạo chủ thương thương tự hữu quyền.

Tối thị anh-hùng ma huyện xứ,

Cổ kim kỳ cuộc hựu kỳ duyên.


Bài thứ nhì sáng-tác ngay khi mới đặt chân vào phối sở, trong những giây phút ngỡ-ngàng, xao-xuyến nhất:


Vấn dư hà sự đáo Côn-lôn,

Tứ vọng thương mang ỷ ngục môn.

Trung quốc vị thù nam tử trái;

Hiếu-gia du hám lão thân tồn.

Ngư thơ hải-ngọai truyền tâm-huyết;

Kình hống thiên biên tỉnh mộng hồn.

Hồng- Lạc hồi tư khai Việt-tổ,

Thử thân thệ hữu thử kiền khôn.


Qua ngày mồng hai Tết, ông còn đương ngồi ăn trái mã-thẩy, một thứ sản-phẩm ngoại-quốc, do một người Trung-hoa gởi tặng trong nhà lao, thì bất-ngờ có tin thân-mẫu và mọi người trong gia-tộc xuống thăm đương chờ ngoài phòng khách. Ông lật-đật mặc áo dài, bịt khăn đen, bước nhanh ra cổng, trông thấy huyên-đường đứng nhìn mình yên-tỉnh như một bức tượng, thân-hình gầy-gò, hai mắt hơi rướm lệ. Ông  chắp tay  kính-cẩn sụp quỳ xuống đất, chờ khi thân-mẫu cho phép, mới dám khởi-lập và gượng-gạo hỏi:

- Thầy không xuống được?

- Thầy hiện bị đau nặng, con ráng đợi một vài ngày nữa, giấy tờ làm xong, con về thăm nhà và gặp.

Ông khúm-núm thưa lại:

- Từ lâu rồi, đứa con bất-hiếu nầy đã lỗi-đạo thần-hôn, xin thầy mẹ rộng lượng tha-thứ!

Thân-mẫu ứng-đáp rất khẽ:

- Nước nhà gặp hồi điên-đảo, con phải ra gánh lấy một phần nhiệm-vụ; thầy mẹ làm thế nào mà oán-trách con cho phải lẽ!

Lúc bấy giờ họ hàng, con cháu, thê-thiếp xúm xít lại, kẻ thì hỏi-han, người thì vỗ-về, mọi người cùng chuyện trò lìu-yếu như một bầy chim chất-mào đương tập-hợp chung-quanh con chim vừa thoát-nạn.

Ngày mười hai tháng giêng năm Giáp-dần, đúng hai tuần lễ-bái sau khi vào tạm trú tại lao-xá Hội-an, ông mới được phóng-thích, nhờ có sự vận-động ráo-riết của các đồng-chí bên ngoài. Tức-thời ông lên đường về làng Tư-phú, ở trung-tâm đảo Phù-kỳ. Ông gặp lại thân-phụ trên giường bệnh, nghẹn-ngào, uất-ức, nỗi vui mừng, điều tủi-thẹn, làm sao mà bày tỏ ra cho hết được và từ đấy hai cha con không rời nhau nửa bước.

Bệnh-tình của thân-phụ cứ trầm-trọng thêm, mặc dầu đã có nhiều vị danh-y tới trông nom, chăm-sóc. Ngày ba mươi tháng giêng năm ấy, thân-phụ trút hơi thở cuối cùng, sau khi thốt ra mấy lời vĩnh-biệt:

- Việc làm dù thành-công dù thất-bại, con cũng nên cố-gắng, vì xã-tắc, vì non-sông. Thành thì đem hạnh-phúc lại cho đồng-bào, cho xứ-sở. Bại thì nêu một tấm gương sáng cho hậu-thế soi chung và thấy rõ đường-lối mà tiến-thủ.

Ông trở về nhà, sống bên cạnh thân-phụ võn-vẹn có mười tám ngày. Nay ông vừa phải nghĩ đến việc tống-táng, vừa phải lo việc đoàn-thể, tình-cảnh thật là đơn-chiếc. Lúc bấy giờ các môn-đệ ở khắp bốn-phương, nhất là hai tỉnh Bình-định và Phú-yên đều có mặt đông-đủ. Các cơ-sở Việt-nam Quang-phục-hội khắp các tỉnh Trung-Việt vừa được tổ-chức trong thời-gian ông bị cấm-cố tại Côn-đảo, cũng kéo về tấp-nập để trợ-lực cho tang-chủ. Đây là một cơ-hội rất quí-báu để các đồng-chí trao-đổi ý-kiến v và kiểm-điểm lại công-tác mấy năm vừa qua. Trong khi người ra kẻ vào còn đương bề-bộn, chính-quyền địa-phương không thể nào lưu-ý dò-xét hết được, ông đã thao-thức nhiều đêm để thảo-luận với nhà cách-mệnh Thái-Phiên về chương-trình hoạt-động của đoàn-thể. Hai vị lãnh-tụ đã đường đường ủy-thác cho đồng-chí Lương-thái-Hoà, người làng Kim-bồng, phủ Điện-bàn, một tay rất giỏi tổ-chức, việc liên-lạc với các tỉnh miền Trung; cho đồng-chí Nguyễn-đức-Đạt, người làng Miếu-bông, huyện Hoà-vang, một người xuất-sắc về kinh-tài, việc liên-lạc với các tỉnh miền Nam; cho đồng-chí Nguyễn-Chánh, người làng Bạch-mai, tỉnh Hà-đông, một công-chức có uy-tín trong chính-giới, việc liên-lạc với các tỉnh miền Bắc. Công việc đầu-tiên mà các tỉnh-hội phải thực-hiện là củng-cố và xây-dựng cơ-sở để lâm-thời có thể đối-phó với tình-hình quốc-tế càng ngày càng biến-chuyển nhanh chóng.

Thật vậy, vào lúc bình-minh của thế-kỷ hai mươi, nhiều biến-cố lịch-sử đã xảy ra dồn-dập trên thế-giới, đáng chú-ý hơn hết là sự thức-dậy của nhiều dân-tộc tại miền Trung-Âu và sự bành-trướng mau lẹ của họ về mặt khoa-học và đại-kỹ-nghệ nhưng quan-trọng hơn hết là cuộc thế-giới đại-chiến lần thứ nhất. 

Ngày mồng một tháng tám năm 1914, Đức khai-chiến với Nga; ngày mồng ba tháng tám năm 1914, Đức lại khai-chiến với Pháp. Tiếp theo đó, ngày mồng bốn tháng tám năm 1914, Anh tham-chiến bên cạnh Pháp; Huê-kỳ, Nhật-bổn, Ý-đại-lợi cũng noi theo gương ấy. Cuộc thế-giới chiến-tranh lần thứ nhất đã bùng nổ.

Thắng thế, người Đức xâm-nhập miền đông-bắc nước Pháp, và tiến lên như vũ-bão, gieo-rắc sự tàn-phá và tang-tóc khắp mọi nơi. Trước sc tấn-công mau lẹ của đối-phương, bộ chỉ-huy Anh Pháp phải ra lệnh thối quân, chiến-tuyến đồng-minh phải dời về vùng sông Seine để tổ-chức lại hàng ngũ. Trong khi ấy, những đội quân tiền-phong của người Đức, dưới quyền chỉ-huy của tướng Von Kluck, đã chiếm đóng miền sông Oise, sông Aisne. Ngày mồng ba tháng chín năm 1914, họ đã vượt qua sông Marne, tiến gần sát thành-phố Ba-lê. Thấy tình-thế khẩn-cấp, chính-phủ Pháp phải dời xuống Bordeaux và ủy-nhiệm cho tướng Galliéni ở lại để bảo-vệ kinh-thành.

Việt-nam đón nhận tin bại-trận ấy, nửa hân-hoan, nửa lo ngại. Chính-phủ Bảo-h phải lo thâu-gom nhân-lực, tài-lực để bảo-vệ chính-quốc. Tại các hải-cảng, ghe thuyền vào ra tấp-nập để vận-tải hàng hoá. Tại các bến đò, nhà ga, lính lê-dương, lính Bắc-phi, lính khố xanh, khố đỏ kéo nhau đi lũ-lượt, tay bồng súng, vai mang hành-lý, để chờ ngày xuống tàu. Ở miền thôn-dã, tại các quận-lỵ, thôn-xóm, lệnh tuyển-mộ binh-sĩ ban-hành rất khẩn-cấp. Nhiều toán nông-dân quê-mùa, chất-phác bị cưỡng-bách tòng-chinh, khăn đen, áo dài mặc lụng-thụng, vợ con nheo-nhóc chạy theo khóc-lóc hai bên đường. Các nhà lãnh-đạo cách-mệnh Việt-nam phải lo hoạt-động ráo-riết để nắm lấy thời-cơ, đánh đuổi bn thực-dân giành lại nền độc-lập cho xứ-sở. Ngay tức-khắc, hai nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân và Thái-Phiên cho triệu-tập ban chấp-hành Việt-nam Quang-phục hội, nhưng mãi đến ngày hai mươi tháng mười một năm 1914 các tỉnh-hội mới lục-tục kéo về họp tại nhà đồng-chí Lê-cảnh-Vận, ở xã Mỹ-thị, huyện Hoà-vang.

Lúc khai-hội, nhà cách-mệnh Thái-Phiên đứng dậy báo-cáo tình-hình:

- Theo những điện-tín gi về nước vào ngày mồng ba và mồng bốn tháng chín năm 1914, thì quân đội đồng-minh đã thảm-bại tại mặt trận biên-giới, người Đức đã tiến gần sát thành-phố Ba-lê. Liền khi ấy chúng tôi đã ra chỉ-thị cho đồng-chí Khóa-Bảo  tìm cách tiếp-xúc lần thứ hai với đức Kim-thượng hiện còn đương nghỉ mát tại cửa Tùng, tỉnh Quảng-trị. Theo những tin-tức vừa nhận được, quân đội Anh Pháp đã phản-công một cách hữu-hiệu. Chiến-tranh tiếp-diễn tàn-khốc, dữ-dội hơn tại mặt trận sông Marne, kéo dài từ ngày mồng sáu cho đến ngày mười hai tháng chín năm 1914 mới chấm-dứt. Bị thất-bại nặng-nề trong cuộc xung-đột lớn lao nầy, người Đức phải rút lui. Bây giờ hai bên cố-gắng tiêu-diệt lẫn nhau, vì vậy cả người Pháp lẫn người Đức phải mở rộng trận tuyến. Người ta dự-đoán rằng cuộc xung-đột sẽ kéo dài không biết đến bao giờ mới chấm dứt và cuối cùng không biết chắc-chắn phần thắng s thuộc về bên nào. Vì vậy chúng tôi mời quí ngài về họp mặt tại đây để tho-luận tình-hình cho rõ-ràng, và tìm ra một đường lối thích-hợp đ cứu-vãn xứ sở trong thời-kỳ nghiêm-trọng nầy.

Cử-nhơn Nguyễn-Súy, người đại-diện cho tỉnh-hội Quảng-ngãi, tiếp lời trình-bày của vị chủ-toạ:

-Hiện nay người Pháp bị lôi cuốn vào trận thế-chiến. Không những họ phải triệu-hồi quân-đội viễn-chinh, mà còn phải bị cắt đứt liên-lạc với các xứ thuộc-địa. Trong trường-hợp đặc-biệt ny họ không thể nào rảnh tay đàn-áp phong-trào giải-phóng dân-tộc ở hải-ngoại. Tôi thiết-tưởng đây là cơ-hội ngàn năm một thuở cho người Việt-nam thâu-hồi nền tự-chủ và quét sạch bọn thực-dân ra khỏi lãnh-thổ. Nếu chúng ta không hành-động ngay bây giờ, chính-phủ Bảo-hộ sẽ áp-dụng những biện-pháp phòng-b thích-ứng, sau nầy cuộc khởi-nghĩa sẽ còn vất-vả, tốn kém hơn nhiều.

Bác-sĩ Lê-đình-Dương, nhân–danh tỉnh-hội Quảng-nam, đứng dậy phát-biểu:

- Chúng ta mới trải qua đợt thứ nhất trong trận thế-giới chiến-tranh, tình-hình ở bên Pháp chưa chín muồi để giúp chúng ta bạo-động có hiệu-quả. Phương-chi, nhìn về nội-bộ, chúng ta nhận thấy thực-lực của chúng ta chưa đầy đủ về phương-diện vật-chất lẫn tinh-thần. Vì vậy tôi thiển-nghĩ bây giờ chúng ta nên lợi-dụng cơ-hội sẵn có để chuẩn-bị cho tốt hơn. Chúng ta phải lo phát-triển cơ-sở, tổ-chức quân-đội và truyên-truyền sâu rộng trong dân-chúng, riêng đối với đối-phương, cần gieo rắc tinh-thần chủ-bại vào đầu óc họ. Chúng ta nên tìm cách liên-hiệp với các nước đồng-minh để tạo thêm ảnh-hưởng cho Việt-nam trên diễn-đàn quốc-tế. Nhiên-hậu, chúng ta phải chờ cho tới khi nước Pháp kiệt-quệ hoàn-toàn hẳn phát-khởi phong-trào bạo-động để tranh-thủ độc-lập lúc đó mới hy-vọng nắm phần thắng-lợi được.

Nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân cũng tán-thành ý-kiến ấy và thêm vào:

-Nước Pháp bị suy-sụp tại châu-Âu, nhưng tại Việt-nam lực-lượng phòng-thủ của họ vẫn còn khá mạnh, chúng ta không nên khinh địch mà phải nhận thất-bại nặng-nề như các vị tiền-bối chúng ta đã gặp phải trong phong-trào Nghĩa-hội hay trong vụ kháng-sưu. Trước hết chúng ta phải lo giác-ngộ quần-chúng, phải cử người ra tiếp-xúc với các nhà lãnh-đạo hải-ngoại để nhận-định rõ-ràng tình hình thế-giới, đồng-thời thông-báo cho họ tình-hình chính-trị đương diễn-biến tại quốc-nội. Một khi chúng ta đã kết-hợp được lực-lượng toàn dân trong nước với sự yễm-trợ của các nước đồng-minh, thống-nhất được chủ-trương đường-lối của hai ban chấp-hành trong và ngoài nước, lúc bấy giờ chúng ta sẽ phát-động cuộc đấu-tranh bạo-động cũng không phải là muộn.

Các nhà văn-thân còn thảo-luận sôi-nổi một thời-gian nữa, cuối cùng cử hai nhà cách-mệnh Nguyễn-Sụy và Phạm-cao-Chẩm sang Xiêm-la và Trung-quốc để quan-sát tình-thế.

Ngày mồng một tháng giêng năm 1915, hai nhà cách-mệnh Nguyễn-Sụy và Phạm-cao-Chẩm mới lên đường. Sau khi dừng lại non một tháng tại Sài-gòn để làm giấy tờ, liên-lạc với kỳ-bộ Nam-việt và non hai tháng tại Nam-vang để chờ người hướng-dẫn, vào khoảng đầu tháng tư năm 1915, họ mới đi Vọng-các rồi đi thẳng lên trại định-cư Việt-nam tại Bàn-thầm để gặp hai nhà cách-mệnh Đặng-tử-Kính và Mai-lão-Bạng . Hai bên trao-đổi ý-kiến suốt một tuần lễ rồi ngậm-ngùi chia tay giữa cảnh rừng núi bao-la, kẻ ở lại nơi đất khách, người trở về thủ-đô nước Xiêm-la để đáp tàu-thủy đi Hương-cảng. Vào hạ tuần tháng tư năm 1915, hai vị đại-diện xâm-nhập miền lục-địa Trung-hoa, lần mò tới nhà nữ đồng-chí Chu-sư-Thái, ở huyện Hương-sơn, tỉnh Quảng-đông, tạm-trú tại đây để chờ các yếu-nhân Việt-nam lần lượt kéo về dự hội- nghị. Lúc bấy giờ nhà lãnh-tụ Phan-bội-Châu vẫn còn bị người tàu giam-giữ tại Quan-âm-sơn, hai vị đại-diện chỉ có thể tiếp-xúc với hoàng-giáp Nguyễn-thượng-Hiền, tú-tài Nguyễn-hải-Thần và một số đồng-chí khác ở hải-ngoại. Trao-đổi, thảo-luận xong, hai vị đại-diện cải-trang thành lái buôn, theo ngã Đông-hưng trở về cố-quốc. Ngày mồng hai tháng bảy năm 1915, sau nửa năm trời bôn-ba nơi hải-ngoại, hai vị đại-diện mới đặt chân lên thành-phố Đà-nẳng, đi ngay về nhà đồng-chí Thái Phiên để báo-cáo:

- Hiện nay tại châu Âu, trận hào-chiến khởi-sự từ ngày mười bảy tháng mười một năm 1914, vẫn đương tiếp-diễn. Ở phía tây, lực-lượng đôi bên vẫn kềm nhau trong bùn lầy băng-tuyết theo một chiến-tuyến dài từ biên-giới nước Thụy-sĩ cho đến miền Bắc-hải. Ở phía đông, người Đức đã tấn-công ầm-ĩ trở lại. Vào ngày mồng hai tháng hai năm 1915, họ đã chọc thủng mặt-trận Nga-la-tư tại vùng sông Dunayec, đã chiếm đóng cả hai nước Ba-lan và Ly-tuy-a-ny. Nước Pháp và các nước đồng-minh đã thất-bại nặng-nề, đã kiệt-qu. Vì vậy ban chấp-hành Việt-nam Quang-phục hội hải-ngoại đã cố-gắng thiết-lập bang-giao với Đức để tìm hậu-thuẩn cho cuộc tranh-đấu của mình. Hai bên đã tổ-chức những cuộc gặp-gỡ bí-mật tại Vọng-các, Bắc-kinh, Quảng-châu, Nhật-bản. Chỉ chờ s giúp đỡ cụ th của người Đức và cơ-hội thuận-tiên thì cuộc bạo-động sẽ được  khởi-phát ngay. Tình-hình quốc-tế đương biến-chuyển mau lẹ, chúng ta phải cấp-tốc chuẩn-bị v mọi phương-diện để lâm-thời có thể phối-hợp cng-tác với lực-lượng chiến-đấu từ hải-ngoại xâm-nhập vào.

Nhà cách-mệnh Thái-Phiên liền thông-báo cho đồng-chí Khóa-Bảo biết kế-hoạch hành-động, nhờ tỉnh-hội Quảng-trị tìm cách tiếp-xúc lần thứ ba với hoàng-đế Duy Tân nhơn mùa viêm nhiệt nầy. Sau đó, ông khởi-hành vào hoạt-động tại miền Đồng-nai lục-tỉnh, lưu lại đấy gần bốn năm tháng mới trở về. Khi ông về tới thành-phố Đà-nẳng, cô Dương-thị-Nở đón ông cùng đi về làng Nghi-an. Tại xứ Cây-cau, thu tàn đông tới, trời đã nhuốm màu lam, mưa dầm-dề bao-phủ sông núi, lá rụng vàng dưới đất, chim hót thưa thớt trên cành. Khi ông vừa bước chân vào ngôi nhà từ-đường ở làng Nghi-an thì đã thấy tên nô-bộc thân-tín mang tới một bức thư có niêm khằn cẩn-thận của đồng-chí Khóa-Bảo t Cam-lộ gởi vào:

" Chúng tôi vừa yết-kiến đức Kim-thượng tại cửa Tùng và kết-quả cũng y hệt như hai lần trước. Theo những tin-tức lưu-hành trong giới thân-cận thì gần đây giáo-sư Eberhart có cho Hoàng-thượng biết rằng tại châu Âu chiến-tranh tiêu-hao tiếp-diễn trường-kỳ, khốc-liệt. Vào tháng chín và tháng mười năm 1915, người Pháp đã phản-công tại vùng Champagne và tổn-thất non hai triệu người, vừa bị thương vưà tử trận. Vị giáo-sư ấy còn nói thêm rằng chiến-tranh càng kéo dài, người Pháp càng thiếu-thốn về tài-nguyên, nhân-sự. Lần đầu tiên người Pháp phải khẩn-khoản kêu gào các thuộc-địa giúp sức, đây là cơ-hội thuận-tiện nhất để cho người Việt-nam có thể tháo-gỡ những xiềng-xích và thâu-hồi nền tự-chủ. 

Ông đọc vừa xong bảng báo-cáo thì tên nô-bộc thân-tín lại mang tới một phong-bì thứ hai hình chữ nhật, có sọc đỏ chạy ngang và có dấu hiệu ban chấp-hành trung-ương hải-ngoại. Vội-vàng, ông nắm lấy bức thông-điệp, xé lớp tín-chỉ bao-bọc ở bên ngoài, rồi chăm-chú đọc  những hàng chữ nho lăn-tăn, li-ti trên mấy trang giấy hoa tiên. Chốc chốc ông lại thở ra, nhíu trán như có điều lo-âu trong lòng, ông lấy bút son điểm từng chấm nho nhỏ vào mấy câu kết-luận: "nay mai với sự trợ giúp của người Đức, quân-đội Việt-nam tại Xiêm-la, Trung-quốc, sẽ t nhiều ngã kéo về biên-giới để rửa hận cho đồng-bào. Các đồng-chí hãy sẵn-sàng hưởng-ứng theo lời kêu gọi của chúng tôi, chuẩn-bị đầy-đủ để chờ lệnh khởì-nghĩa."

Làm xong từng ấy công việc, ông gọi tên nô-bộc thân-tín đến và gắt-gỏng hỏi:

- Ai đưa hai bức thông-điệp nầy cho chú?

Tên nô-bộc thân-tín vòng tay lại, kính-cẩn trả-lời:

- Tất cả hai phong bì ấy đều do cha cố đạo Bàn-gốc mang đến.

Ông gật đầu hỏi tiếp:

- Có ai hay biết gì không?

Tên nô-bộc thân-tín vòng tay một lần nữa, nhìn tận vào mặt chủ:

- Bẫm không ạ.

Ông bảo tên nô-bộc đi xuống nhà bếp rồi gọi cô Dương-thị-Nở đến sát bên mình căn-dặn thật nhỏ:

- Đồng-chí phải đi gấp vào làng Tư-phú trao tận tay những tài-liệu nầy cho nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân.

Sắp đặt công việc xong xuôi, ông thuê xe kéo xuống ga lớn, đón chuyến tàu hoả đi về hướng bắc. Bây giờ là hạ tuần tháng mười một năm 1915.

Sở dĩ có bức điệp-văn từ hải-ngoại gởi về vì Đức muốn tranh-giành ảnh-hưởng với Pháp tại thuộc-địa. Đức xúi-giục nhân-dân bản-xứ nổi lên chống-đối chính-phủ Bảo-hộ, làm cho thế-lực người Pháp bị suy-gim nhanh hơn tại mẫu-quốc.

Vào khoảng tháng chín năm 1915, hai vị sứ-thần Đức và Áo tại Vọng-các thân-hành tới thăm nhà cách-mệnh Đặng-tử-Kính, người đại-diện Việt-nam Quang-phục-hội tại Xiêm-la và tỏ ý muốn gặp hai vị lãnh-tụ Phan-bội-Châu và Cường-Để đ tìm cách giúp đVị đại-diện Đặng-tử-Kính phải thân-hành qua Trung-quốc để hỏi ý-kiến các bậc đàn anh, và viết thư nhờ bà Chu-sư-Thái chuyển cho nhà cách-mệnh Phan-bội-Châu đương bị tổng-đốc Long-tế-Quang bắt giam trong nhà lao. Từ trong ngục-thất nhà cách-mệnh Phan-bội-Châu nhắn lời phúc-đáp, cử hoàng-giáp Nguyễn-thượng-Hiền sang Vọng-các mở cuộc thương-thuyết.  Gặp nhau, vị sứ-thần Đức lấy ra một vạn bạc Xiêm, trao tặng cho các nhà cách-mệnh Việt-nam và nói:

- Đây chỉ là số tiền nhỏ thay thế chén cà-phê trong lúc sơ-ngộ. Nếu các ngài làm sao phát-động được một cuộc nổi dậy lớn trong nước, có ảnh-hưởng vang-dội đến xứ-sở chúng tôi, thì dẫu cho có trăm vạn bạc sắp lên, cũng chưa thể nói là lớn để giúp đỡ quí-quốc được.

Hoàng-giáp Nguyễn-thượng-Hiền mang số bạc ấy về Quảng-đông, họp ban chấp-hành trung-ương để thảo-luận, rồi báo-cáo với nhà cách-mệnh Phan-bội-Châu. Trong phúc-thư, vị thủ-lãnh Việt-nam Quang-phục hội khuyên các đồng-chí nên lợi-dụng cơ-hội nầy để gây thêm một biến-cố trong nước, hy-vọng biến-cố nầy có thể làm cho dư-luận quốc-tế bị chấn-động mà chú-ý đến cuộc tranh-thủ độc-lập của Việt-nam. Các nhà cách-mệnh Việt-nam tại hải-ngoại bỏ hết số tiền ấy ra sắm thêm võ-khí, tổ-chức kiều-bào lưu-vong thành ba đạo quân để bất-thần có thể xâm-nhập miền biên-giới Bắc-Việt theo ba ngả khác nhau.

Vào thượng-tuần tháng mười hai năm 1915, đạo quân thứ nhất, đặt dưới quyền của tán-tướng Nguyễn-mạnh-Hiếu, kéo về tấn công thị xã Mông-cáy, nhưng bị thất-bại. Đạo quân thứ hai, đặt dưới quyền chỉ-huy của hoàng-giáp Nguyễn-thượng-Hiền, theo ngã Long-châu tiến về đánh úp vùng Lạng-sơn nhưng cũng bị thất-bại. Đạo quân thứ ba, theo kế-hoạch, đặt dưới quyền chỉ-huy của nhà cách-mệnh Hoàng-trọng-Mậu, từ Vân nam kéo về Hà-khẩu để đánh chiếm thị-xã Lào-kay, nhưng đến phút cuối cùng, vì một sự lủng-củng đáng tiếc xảy ra trong nội-bộ, nhà cách-mệnh Hoàng-trọng-Mậu không chịu lãnh cái trọng-trách ấy. Đệ tam lộ-quân phải giao lại cho tú-tài Nguyễn-hải-Thần và tán-tướng Võ-mẫn-Đình kéo về đột kích một trại binh Pháp ở Tà-lung, gần thị xã Lạng-sơn, nhưng lần nầy cũng không được thành-công. Các tỉnh-hội trong nước đã nỗ-lực chuẩn-bị từ lâu để làm nội-ứng cho lực-lượng cách-mệnh ở hải-ngoại, nhưng không thấy kết-quả, họ đành phải nằm im để chờ một cơ-hội khác.