Nhà cách-mệnh Thái-Phiên


Năm 1911, sau một giấc ngủ triền-miên, kéo dài đến hàng trăm thế-kỷ, nước Trung-hoa vươn mình đứng dậy, noi theo cái gương sáng-suốt của Minh-trị thiên-hoàng. Khắp mọi nơi, dân-tộc Trung-hoa đã phất cờ dân-chủ, cướp đoạt chính-quyền và tiêu-diệt nền đế-chế Mãn-thanh. Chỉ trong một thời-gian ngắn, cuộc cách-mệnh Tân-hợi đã thành-công, làm cho liệt-cường phải ngạc-nhiên, thế-giới phải rúng-động. Trước cảnh-tượng tưng-bừng rạng-rỡ ấy, các nhà cách-mệnh Việt-nam còn đương bôn-ba nơi hải-ngoại, làm sao mà không băn-khoăn, nô-nức được. Lúc bây giờ con đường bang-giao với nước Phù-tang đã bị khép chặt, các nhà cách-mệnh Việt-nam lại càng tin-tưởng vào sự giải-phóng của nước Trung-hoa dân-chủ. Họ đã lần-lượt rời bỏ nước Xiêm-la trở về hoạt-động tại Trung-quốc. Vì vậy, vào mùa xuân năm 1912, nhà cách-mệnh Phan-bội-Châu đã tụ họp các đồng-chí tại Quảng-đông, tuyên-bố giải-tán Duy-tân-hội và thành-lập Việt-nam Quang-phục-hội. Cuộc hội-nghị bế-mạc, các nhà cách-mệnh Việt-nam một mặt lo tiến-hành việc tiếp-xúc với các nhà lãnh-đạo Trung-hoa Quốc-dân-đảng, một mặt khác lại phái người về trong nước để giải-thích chủ-trương mới và củng-cố lại tổ-chức.

Kể từ ngày nhà cách-mệnh Nguyễn-Thành lên đường ra Côn-đảo rồi mệnh-chung trong lao-tù, nhà cách-mệnh Thái-Phiên phải đảm-nhận  công-việc lãnh-đạo Duy-tân-hội để cho đảng-viên khỏi bị phân-tán, dân-chúng khỏi mất tin-tưởng. Nhận được chỉ-thị ở hải-ngoại đưa về, ông âm-thầm hoạt-động nhiều hơn để làm cho Việt-nam Quang-phục-hội có thể phát-triển nhanh hơn ngỏ-hầu đáp-ứng những đòi-hỏi cấp-bách tại điạ-phương và những biến-chuyển dồn-dập trên quốc-tế. Sinh-trưởng tại làng Nghi-an, ngay tại vùng ngoại-ô thành-phố Đằ-nẳng, ông theo học chữ Pháp thật sớm. Sẵn có trí-nhớ bền-bĩ, phong-phú, bộ óc thông-minh sắc-sảo, ông có thể theo đuổi việc học để thâu-hoạch những thành-quả rực-rỡ hơn. Vì nghe theo tiếng gọi thiêng-liêng của tổ-quốc, ông phải tạm-gác công-việc cá-nhân, trách-nhiệm gia-đình để dấn-thân trên con đường cách-mệnh đầy chông gai hiểm-hóc. Một khi nhận trọng-trách, ông đã có dịp chứng tỏ chomọi người biết cái năng-khiếu lỗi-lạc của mình về chính-trị, về kinh-tế, đặc-biệt hơn hết, ông đã khéo đem cái óc kinh-doanh, cái tài biện-sự của mình để mưu-toan lật-đổ bạo-quyền và thâu-hồi nền độc-lập cho đất-nước. Lúc ban đầu, ông ra giúp việc cho viên Pháp-kiều Le Roy, một nhà thầu-khoán rất có thế-lực tại Đà-nẳng. Chẳng bao-lâu, không những ông đã gây được sự tín-nhiệm đối với chủ-nhân và toàn thể nhân-viên trong hãng, mà lại còn vận-dụng được sự bảo-vệ của chủ-nhân cho những hoạt-động bí-mật của mình. Mỗi lần ông đột-ngột phải rời bỏ thành-phố Đà-nẳng để hội-họp hay tiếp-xúc với các đồng-chí, mật-thám có theo dõi, chính-phủ có chạy giấy về hỏi tin-tức, viên Pháp-kiều LeRoy lại tìm cách bao-che cho ông. Hình như sự giao-thiệp hằng ngày giữa ông và chủ-nhân đã vượt ra ngoài phạm-vi cá-nhân hay tình-cảm để tiến đến một sự thông-cảm khá cao về quan-niệm, đường-lối. Pháp-kiều Le Roy đã viết thơ giới-thiệu ông với vị giáo-sư Eberhart, người tỉnh Alsace, được đặc-phái làm phụ-đạo cho vua Duy-tân tại thành-nội và với viên thiếu-tá người Đức hiện đương chỉ-huy lực-lượng phòng-trú tại đồn Mang-cá ở Huế. Ông đã giao lại việc liên-lạc với viên thiếu-tá cho linh-mục Bàn-gốc. Sự đi lại với giáo-sư Eberhart đã có bác-sĩ Lê-đình-Dương, giám-đốc bệnh-viện Quảng-nam ở Hội-an đm-nhận. Nhờ sự làm việc tế-nhị, kín-đáo ấy mà bọn trành-hồ trong nước không thể nào biết được hành-tung của ông, chính-phủ Pháp cũng như chính-phủ Nam-triều không thể nào thấy rõ vai-trò lãnh-đạo của ông  trong đoàn-thể. Ông giúp việc cho Pháp-kiều Le Roy được một thời-gian thì xin nghỉ để khai-trương một hãng thầu riêng. Làm được bao nhiêu tiền, ông đều bí-mật gởi ra cho cơ-quan đảng-vụ hải-ngoại. Lúc bấy giờ, nhạc-phụ của ông là Học-Băng, ở làng Quan-châu và nhạc-phụ nhà cách-mệnh Phan-thành-Tài là Cai Nghi, một tay cự-phú ở làng Vĩnh-trinh, cũng bỏ tài-sản ra khá nhiều để phụng-sự cho cách-mệnh.

Vào mùa hạ năm 1913, tình-hình quốc-tế đã bắt đầu chuyển-hướng; tại châu Âu hai nước Pháp và Đức chưa xung-đột với nhau rõ-rệt, nhưng các nhà chính-trị dự-đoán nay mai thế-giới chiến-tranh sẽ xảy ra và sẽ phát-xuất từ hai nước ấy. Nhà cách-mệnh Phan-bội-Châu đã có ý-định thực-hiện một cuộc du-lịch tại Bá-linh và nhiều kinh-đô khác nữa để mưu-đồ ngoại-viện. Chưa kịp khởi-hành, ông đã bị chính-phủ Trung-hoa bắt giam tại Quảng-châu, vì Trung-hoa đã có mật-ước với các nhà cầm-quyền Pháp tại Đông-dương. Mãi cho đến năm 1916 nhà cách-mệnh Phan-bội-Châu mới được phóng-thích. Tin-tức đưa về trong nước, nhà cách-mệnh Thá-Phiên phải hoạt-động tích-cực hơn, phải vào nam ra bắc thường xuyên để chuẩn-bị tư-tưởng cho các đồng-chí và phát-triển cơ-sở. Một hôm ông ghé qua địa-phận Bàn-gốc và được cha linh-mục cho biết: Theo mật-báo của viên chỉ-huy đồn Mang-cá, không sớm thì muộn, nội trong vòng một năm tới, nước Đức sẽ tấn-công nước Pháp, thế-giới đại-chiến sẽ xảy ra tại châu Âu, ông nên chuẩn-bị quần-chúng để kịp thời đôi-phó với tình-thế.

Nhà cách-mệnh Thái-Phiên kính-cẩn nhìn vị cố-đạo và hỏi lại:

- Hiện nay ở hải-ngoại Việt-nam Quang-phục-hội đang bị chính-phủ Trung-hoa đàn-áp, tại quốc-nội bọn mật-thám Tây lại hoạt-động ráo-riết, dân-chúng còn e-dè, lo-sợ, chúng ta phải làm thế nào để tiến-hành công việc cho được mau chóng?.

Vị linh-mục dắt nhà cách-mệnh đi một vòng trong sân nhà chung, suy-nghĩ một hồi lâu, rồi trả-lời thật khẽ:

- Muốn làm đại-sự thì phải có đại-nghĩa mới có thể thành-công được.

Nhà cách-mệnh Thái-Phiên hiểu ý ngay, liền cáo-từ vị truyền-giáo, vội-vàng lên đường về Hội-an để gặp bác-sĩ Lê-đình-Dương. Tới nơi ông thuê xe kéo đi ngay về bệnh-viện. Như thường lệ, sau khi vượt qua chiếc cổng, ông rẽ về bên trái, đi thẳng vào tư-thất. Trong phòng khách có tiếng trò chuyện rì-rào, ông bước lên tam-cấp, nhìn qua khung cửa sổ thì thấy nhà cách-mệnh Phan-thành-Tài, Ngô-Đạm, Huỳnh-thế-Kỷ đương ngồi bàn-bạc với một số thân-hào nhân-sĩ từ các miền thôn-quê mới tụ về. Bác-sĩ Lê-đình-Dương ngồi trên chiếc ghế trường-kỷ, đương nâng lên môi một chén huyết gà trống màu đỏ sẫm. Ông đứng ngoài hiên một chặp lâu, cảm-động nhìn các đồng-chí đương ăn thề với nhau, rồi nghe cử-tọa đứng dậy trịnh-trọng tuyên-bố, ăn nhịp với lời xướng-xuất của bác-sĩ Lê-đình-Dương, người chủ-tọa buổi lễ:

- Chúng tôi nguyện đem hết của cải và tính mạng ra phụng-sự cho đồng-bào. Làm như vậy, chúng tôi không nghĩ đến thất-bại hay thành-công mà chỉ nhắm một mục-đích duy-nhất là nêu một tấm gương sáng cho hậu-thế.

Ông lấy chiếc khăn bỏ túi ra, lau sạch-sẽ những giọt mồ-hôi trên trán, chờ cho quan-khách ra về hết, mới bước vào, bắt tay bác-sĩ Lê-đình-Dương và nói thật nhỏ:

- Chiến-tranh sẽ bùng-nổ tại châu Âu và nhiều phần nước Pháp sẽ bị thảm-bại. Chúng ta phải chụp lấy cơ-hội ngàn năm một thuở nầy. Ngay bây giờ chúng ta phải tìm cách vận-động cho đồng-chí Trần-cao-Vân được trở về nguyên-quán.

Bác-sĩ Lê-đình-Dương hỏi lại:

- Việc phóng-thích đồng-chí Trần-cao-Vân, tôi sẽ đảm-nhận và sẽ thân-hành lên Quảng-nam để thương-lượng với các nhà hữu-trách. Nhưng thiết-tưởng muốn thực-hiện cách-mệnh cho có hiệu-quả, trước hết chúng ta phải có một chính-sách thích-hợp, một chương-trình, kế-hoạch rõ-ràng, chính-xác. Tại sao chúng ta không triệu-tập các đồng-chí khắp ba kỳ về đây để bàn vấn-đề cho sát hơn và để thống-nhất ý-chí hành-động cho chặt-chẽ hơn?

Ngồi nghe bác-sĩ Lê-đình-Dương chất-vấn, ông nghĩ-ngợi giây-lát, rồi đứng dậy trả-lời:

- Muốn làm cách-mệnh, chúng ta phải có hai bí-quyết: một là biết làm, hai là dám làm. Biết làm thì chúng ta biết chưa được thấu-đáo; dám làm thì chúng ta dám chưa được triệt-để. Phải chờ đồng-chí Trần-cao-Vân trở về lãnh-đạo phong-trào dân-chúng thì mưu-lược và đại-sự mới có thể thành-công được.

Bác-sĩ Lê-đình-Dương lấy làm phải, nhẹ gật đầu, rồi hai người tạm-biệt.

Nhà cách-mệnh Thái-Phiên phải lên đường một cách vội-vả vì cách đấy một tuần trăng, ông có nhận được mật-báo của đồng-chí Trần-quang-Trứ, một người gốc Nam-việt, hiện đương làm phán-sự tại tòa Khâm-sứ Huế, được biệt-phái qua tòng-sự tại văn-phòng viên chỉ-huy đồn Mang-cá. Theo những tin-tức mà đồng-chí Trần-quang-Trứ đã thâu-lượm được trong mấy tháng gần đây, vua Duy-tân thường hay có những nỗi buồn-rầu vô-cớ, nhăn-nhó, bực-bội vì đời-sống chật hẹp, đơn-điệu ở trong chốn thâm-cung. Triều-đình Huế và chính-phủ Bảo-hộ đã thảo-luận nhiều lần để tìm cách cứu-vãn tình-thế, và bất-đắc-dĩ phải cho xây-cất một tòa lương-đình tại cửa Tùng, tỉnh Quảng-trị để cho nhà vua dùng làm chổ nghỉ-mát. Trong mùa viêm-nhiệt nầy, thỉnh-thoảng nhà vua sẽ ngự-giá ra bãi-bể, và sẽ có dịp để tiếp-xúc với đồng-bào, thân-sĩ. Nhận được bản báo-cáo, ông lại sực-nhớ đến lời căn-dặn của vị linh-mục ở địa-phận Bàn-gốc. Tức-thì một mặt, ông nhờ tỉnh-bộ Quảng-trị tổ-chức một cuộc gặp-gỡ sơ-bộ để dò-xét ý-tứ của đấng thiên-tử; mặt khác, sau non một tháng chờ-đợi, ông lại thân-hành vào Hội-an để nhờ tỉnh-bộ Quảng-nam vận-động cho nhà lãnh-tụ Trần-cao-Vân được phóng-thích. Bữa nay ra khỏi bệnh-viện Hội-an, ông thuê một chiếc xe kéo bánh sắt, đi thẳng lên Vĩnh-điện, theo con sông Câu-nhí, nằm quá-giang một đêm trên một chiếc đò dọc, rạng ngày thuyền cập bến tại Đà-nẳng. Ông  mua vé xe-hỏa đi ra Quảng-trị, chỉ dừng lại tỉnh-thành một vài tiếng đồng-hồ để lấy tin-tức, rồi thuê võng trạm đi ra chợ phiên Cam-lộ. Tới nơi, thấy người mua kẻ bán  đông-đúc, trâu bò, gà vịt trưng-bày nghênh-ngang khắp các ngã đường, ông không sợ bọn mật-tham để ý, rảo bước đi ngay vào căn nhà của đồng-chí Khóa-Bảo ở trên quốc-lộ. Một người đàn ông vào trạc tứ-tuần, chân tay gầy-gò, thân-hình cao lỏng-khỏng, mặt mày xương xẩu, trán bích-lập, mắt sáng, diện-mạo trông thật là nho-nhã, đương nằm đọc sách trên bức sập, thỉnh-thoảng lại tắc lưỡi rất khẽ như có vấn-đề gì không được thỏa-mãn trong lòng. Ông bước lại gần, đồng-chí Khóa Bảo nghe tiếng động bên mình, chồm-ngồm ngồi dậy, nhìn chòng-chọc vào người bạn. Sau vài giây khắc ngạc-nhiên, ông thốt ra tự đáy lòng mấy tiếng thật thân-ái:

- Cố-nhân! cố-nhân đến tự bao giờ?

Ông chưa kịp trả-lời, đồng-chí Khóa-Bảo tiếp lời:

- Thôi bây-giờ chúng mình phải đi rửa mặt, dùng cơm tối cái đã, rồi hãy nói chuyện. Chỉ trong mười phút, ông đã ngồi vào bàn, ăn thật ngon lành mấy món tương-chao đậu-phụ, rau muống luộc dọn với sắn mì và cơm gạo đỏ. Bữa tiệc đơn-giản nầy kéo dài cho tới gần nửa đêm, khi đầy-tớ đi ngủ hết, trong nhà chỉ còn ngọn đèn dầu lạt cháy leo-lét, với con mèo tam-thể nằm kêu rò rò ở trên bức chiếu kê. Đồng-chí Khóa Bảo vừa ngồi cầm đũa để tiếp khách, vừa nhắc đến cuộc gặp gỡ giữa một số nhân-sĩ cách-mệnh ở Quảng-trị và Hoàng-đế Duy Tân:

- Tôi đã gặp đức Kim-Thượng một lần tại cửa Tùng và một lần thứ hai tại chợ phiên Cam-lộ.

Ông liền hỏi:

- Làm thế nào mà tổ-chức cuộc tiếp-xúc nầy?

Đồng-chí Khóa Bảo khoan-thai trả lời:

- Cuộc gặp gỡ tại chợ phiên Cam-lộ là một việc ngẫu-nhiên, nhà vua chỉ dừng lại một vài phút, trao-đổi một vài câu khách-sáo, rồi phải tiếp-tục đi ngay, vì sợ bọn đình-thần lưu-ý và bọn mật-thám theo dõi sát bên chân. Trái lại cuộc hội-ngộ tại cửa Tùng đã được sắp đặt từ lâu, đã được bàn-tính, cân-nhắc tỉ-mỉ, cẩn-thận. Cuối cùng kế-hoạch có thể thực-hiện được là nhờ có sự tận-tâm, khéo-léo của bà Trương-thị-Dương, một nữ đồng-chí ở xã Tân-điền, quận Hải-lăng, tỉnh Quảng-trị. Hằng ngày bà cải-trang vào buôn-bán trong lương-đình để làm quen với bọn thị-vệ, và gây tín-nhiệm với đấng thiên-tử. Từ đấy, mỗi ngày tôi cũng phải ra ngồi thơ-thẩn trên mõm đá, đóng vai-trò Khương-tử-Nha thuở xưa trên bờ sông Vị-thủy. Một hôm theo thời-khắc đã qui-định giữa đôi bên, nhà vua vi-hành ra ngồi trên bàn-thạch, phóng tầm mắt nhìn cảnh-vật bao-la ở nơi chân trời và lắng nghe câu chuyện tâm-tình của một tên ngư-phủ. Tôi mở nắp giỏ, lấy ra một con cá hồng dài đến năm tất tây, mua sẵn từ trước, khép-nép quì xuống dâng nhà vua, nói là tặng-phẩm của nhóm thân-sĩ trung-thành ở vùng sông Thạch-hãn. Tôi cũng chớp lấy cơ-hội hiếm-có để trình-bày  cặn-kẽ về sự tàn-bạo của chính-phủ Bảo-hộ, sự áp-bức của chính-phủ Nam-triều, về cảnh nô-lệ, lầm-than của dân-chúng và sau nữa, để gieo vào lòng nhà vua niềm tin-tưởng vào sự kháng-chiến trường-kỳ của dân-tộc, vào tương-lai huy-hoàng của xứ-sở. Tôi đã cố-gắng phác-họa những nỗ-lực cách-mệnh của Việt-nam Quang-phục-hội ở hải-ngoại cũng như ở trong nước. Nhà vua chăm-chú nghe những điều tôi vừa mới diện-tấu, khuyên tôi nên hoạt-động cho mau lẹ hơn và hứa sau nầy sẽ tìm cách nâng-đỡ cho phong-trào ái-quốc.

Đồng-chí khóa Bảo trình-bày tới đây thì tạm-nghỉ, lấy ống điếu lào ra kéo một hơi  rồi nói tiếp:

- Theo chỗ tôi nhận-xét, Hoàng-thượng là một vị đế-vương, không những thông-minh, can-đm, mà lại còn có lòng nhân-đạo, có óc dân-chủ, biết lo cho tổ-quốc, cho đồng-bào. Tôi thiết-tưởng một nhân-vật có đủ uy-tín, có đủ thiện-chí như vậy, phải được kết-nạp vào hàng-ngũ cách-mệnh, sớm chừng nào thì càng hay chừng ấy.

Nhà cách-mệnh Thái-Phiên lưu-ý một cách đặc-biệt đến những điều nhận-xét của đồng-chí Khóa-Bảo, nỗi vui-mừng, lòng tin-tưởng lộ hẳn ra trên nét mặt, nhưng muốn tìm-hiểu vấn-đề cho cặn-kẽ hơn, ông hỏi thêm:

- Sinh-trưởng trong một xã-hội đã đến lúc điêu-tàn, hằng ngày phải mục-kích những hành-động bạo-ngược, bất-công, vô liêm-sỉ, phải sống trong bầu không-khí ngột-ngạc do bị Pháp chèn-ép, Hoàng-thượng phải có những lúc bất-mãn với triều-đình, với chính-phủ Bảo-hộ. Liệu ngài có thể dứt-khoát lập-trường, có thể từ bỏ địa-vị, quyền-lợi, châu-báu trong chốn cung-cấm để trở về với dân-chúng hay không?

Đồng-chí Khóa-Bảo suy-nghĩ thật lâu, mới trả lời:

- Muốn biết rõ tâm-lý nhà vua, chúng ta phải xét đến những biến-cố đã xảy ra trong hoàng-tộc. Ngài làm sao mà quên được việc quyền-thần chuyên-chế, việc Nguyễn-văn-Tường, Tôn-thất-Thuyết tự ý phế-lập, không những sát-hại tiến-sĩ Trần-tiển-Thành, hạ ngục  tiến-sĩ Phan-đình-Phùng, lại còn ép vua Dục-Đức phải nhịn đói  trong chốn lao-tù để kết liễu cuộc đời, bắt vua Hiệp-Hoà phải uống thuốc độc tự-sát trong ngục-thất. Tiếp theo đó lại xảy đến việc vua Hàm-Nghi phải bỏ ngai mà chạy trốn ra Tân-sở, việc đức phụ-hoàng, là vua Thành-Thái, bị chính-phủ Pháp âm-mưu cướp-đoạt hết quyền-bính, phải bí-mật tổ-chức quân-đội chng-cự lại và cuối cùng phải bị an-trí tại một hòn đảo xa xăm phía bên kia Ấn-độ-dương. Những tấn-tuồng trên đã làm cho ngài căm-tức đến cực-độ, bắt buộc ngài phải có thái-độ quyết-liệt với ngoại-bang.

Đồng-chí Khóa-Bảo phân-tích xong, tạm nghỉ giây lát, lấy ống điếu ra kéo phì-phào  lần nữa, hả miệng đẩy ra hết làn khói màu xanh lơ, mầu xám đục rồi nói tiếp:

- Muốn biết rõ tâm-lý của nhà vua, chúng ta cũng phải xét đến tiếng gọi của hai mươi lăm triệu đồng-bào đương rên-siết dưới cái ách của bọn thực-dân bạo-tàn và bọn quan-lại tham-nhũng. Ngài làm sao mà quên được những vụ bắn giết nhân-dân Trung-Việt đã nổi dậy kéo về các tỉnh-lỵ để xin xâu, vụ phát-vãng các nhà văn-thân ra Côn-đảo để chận-đứng phong-trào phản-đối. Không sớm thì muộn, ngài phải hành-động, ngài sẽ rời bỏ thâm-cung để hòa mình với quần-chúng, để đánh đuổi bọn xâm-lăng Pháp mà cứu vớt giống-nòi, giải-phóng dân-tộc.

Nhà cách-mệnh Thái-Phiên chăm-chú lắng nghe những lời phân-tích, rồi hỏi lại:

- Đồng-chí có nghĩ nhà vua có thể chịu trường-kỳ gian-khổ để chiến-đấu trong hàng-ngũ văn-thân hay không?

Đồng-chí khóa-Bảo đánh bật que diêm lên, châm mồi thuốc một cách thong-thả, vớ lấy xe trúc kéo một hơi thật dài để có thì-giờ suy-nghĩ, rồi nói:

- Tôi nghĩ rằng ngài sẽ rời bỏ cuộc đời vàng son, sẽ dấn thân trên con đường tranh-đấu đầy gian-nan thử-thách.

Hai nhà cách-mệnh còn đương trò chuyện thân-mật thì tên đầy-tớ gái xô cửa mạch bước vào, đặt một bát nước lạnh trên bộ phản ngựa. Sau đó, một tên nông-dân lại bưng vào một mâm cơm đầy mặp thức ăn. Nhà cách-mệnh Thái-Phiên đứng dậy, kéo chiếc đồng hồ trái quít trong túi ra xem và thận-trọng nói:

- Bây giờ là đúng năm giờ sáng, tôi phải về Đông-hà tức-khắc cho khỏi lỡ chuyến xe Huỳnh-văn-Phi đi Hà-nội.

Ngay lúc ấy bà Khóa-Bảo từ nhà dưới chạy lên, khép-nép đứng bên cạnh chồng, nói ấp-úng:

- Vừa rồi chúng tôi có mạn phép quảy mâm cơm cho ông ngoại mấy cháu, xin thầy ngồi lại dùng chén rượu cho vui.