Người tài-xế của vua Duy Tân


Hai nhà cách-mệnh Thái-Phiên và Trần-cao-Vân nấn-ná ở lại dùng cơm tối, rồi thuê xe đi vào thành-nội, dừng chân bên ngoài cửa Hiển-nhơn. Cảnh-vật yên-lặng, không một bóng người, thỉnh-thoảng những tiếng trống cà-rầng t một vọng-gác xa-xăm. Mấy con ve sầu đương lao mình từ một cành nhãn lồng sum-sê vào mấy trụ đèn dầu-lạc dựng hai bên đường tỏa ra một thứ ánh-sáng lờ mờ, buồn thiu. Được khuyến-khích bởi sự vắng-lặng đương bao-phủ tất cả miền kinh-sư, hai nhà cách mệnh mạnh-dạn tiến tới một chiếc cầu treo bắc ngang qua cái hào có hoa sen trắng,  đứng nhìn thẳng vào bức thành nhỏ hẹp bao-bọc hệ-thống cung-điện nhà vua. Một thanh-niên bứơc đến chắp tay kính-cẩn chào hai nhà cách-mệnh và nói:

- Tôi đã cố ý ra sớm hơn, nhưng chưa kịp dời bước thì bị Hoàng-Thượng gọi vào tiền-điện và giữ mãi cho tới canh hai mới thoát ra được.

Ba người đi chậm rãi về phía trường Quốc-tử-giám, vào nhà Di-luân ngồi trò chuyện thì thầm trong khi bầy dơi cứ bay qua bay lại chập-chờn trong bóng tối. Người thanh niên nói khẽ:

- Tôi đã gặp đồng-chí Nguyễn-quang-Siêu, hiện giữ chức chánh-đội thân-binh, và đồng-chí Tôn-thất-Đề, thị-vệ trong đại-nội, chúng tôi đã hợp-tác để xúc-tiến công việc của đoàn-thể.

Nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân hỏi:

- Ai giới-thiệu hai vị cận-thần ấy với đồng-chí?

- Theo lệnh Trung-ương, đồng-chí Trần-quang-Trứ đã giúp phương-tiện cho chúng tôi gặp nhau.

Nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân hỏi tiếp:

- Đồng-chí Trần-quang-Trứ là người như thế nào?

Người thanh-niên đắn-đo trong giây-lát:

- Đồng-chí Trần-quang-Trứ là một nhà tân-học lỗi-lạc ở miền Đồng-nai lục-tỉnh, được hoán-bổ ra tòng-sự tại tòa Khâm-sứ Huế, hiện nay được biệt-phái sang làm việc tại đồn Mang-cá. Nói về bầu nhiệt-huyết , về trí thông-minh, về tài hoạt-bát, về tính ngay thẳng thì đồng-chí ấy vẫn có thừa, nhưng xét riêng về lòng quả-cảm, sự kiên-trì thì tôi e rằng đồng-chí ấy vẫn còn có chỗ thiếu-sót.

Nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân lắng tai nghe gã thanh-niên phân-tích tâm-lý một yếu-nhân trong đoàn thể, rồi ba người kéo nhau ra ngoài cỗng trường học, đi bách-bộ trên một khúc quẹo, giữa những hàng mù u thâm-niên không khỏi tò-mò vì những người khách lạ. Nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân lấy ra một phong-thư có niêm dán hẳn hoi, trao lại cho gã thanh-niên, và căn-dặn thật chu-đáo:

- Đây là một bức điệp-văn có thể quyết-định được vận-mệnh của đoàn-thể chúng ta và sự tồn-vong của đất nước. Đồng-chí phải nhận lấy trách-nhiệm lch-sử dâng bức thư ấy lên đức Kim-Thượng vào lúc thuận-tiện nhất, phải luôn luôn ghi nhớ một điều là nội-dung cuộc tiếp-xúc phải tùy thuộc vào cơ-hội và lập-trường của nhà vua. Khi nào Hoàng-Thượng vui vẻ thì phải đem những chuyện ngư, tiều, canh, mộc ra đàm-luận cho ngài được vui. Chỉ khi nào Hoàng-Thượng ưu-tư, buồn-bã, hoặc vì chưa được thỏa-mãn về đời sống chật-hẹp trong chốn cữu-trùng, hoặc vì có những chuyện thắc-mắc với triều-đình hay những điều rắc-rối với chính-phủ Bảo-hộ thì lúc bấy giờ đồng-chí mới tìm cách dò-xét ý-tứ của Ngài, và nhiên-hậu mới dám bàn tới đại-sự.

Căn dặn xong, hai nhà cách-mệnh Thái-Phiên, Trần-cao-Vân từ-giã vị thanh-niên và rảo bước đi về ngã Âm-hồn trên những chặng đường mỗi lúc mỗi vắng-vẻ.

Đồng-chí Nguyễn-hữu-Khánh gi chặt bức điệp-văn trong tay, đứng nhìn theo một hồi lâu. Chàng liên-tưởng tới thời-kỳ niên-thiếu của mình, và cảm thấy nao nao trong dạ. Cách đây bốn năm, chàng rời bỏ quê-hương, ở phủ Điện-bàn, tỉnh Quảng-nam, ra Huế tòng học tại trường Bách-công trong thành-nội. Hồi ấy, mỗi tuần hai lần, vào thứ ba và thứ năm là những ngày nghỉ học, chàng năng qua lại bến đò Trường-súng, có dịp làm quen với cô Lê-thị-Hồng-Vân, một nữ-sinh năm thứ nhất trường Đồng-Khánh, nguyên-quán làng Vạn-xuân, huyện Hương-trà. Thế rồi chàng noi gương những vị học-trò trong Quảng ra thi, bỏ ra nhiều công-phu để theo đuổi người con gái kiều-diễm đất thần-kinh có đôi má núng đồng tiền xinh đẹp. Cuộc tình duyên còn đương dang-dở thì một hôm chàng băng qua rào để dự một trận túc-cầu trên bãi cỏ trường Kinh-thành tư-thục, tình-cờ chàng gặp đồng-chí Bùi-thế-Mỹ, một học-sinh xuất-sắc ở hội Đồng-châu Quảng-nam, nguyên quán làng Vĩnh-trinh, phủ Duy-xuyên. Hai người thảo-luận với nhau về chương-trình hoạt-động của Việt-nam Quang-phục-hội. Đồng-chí Bùi-thế-Mỹ đứng ra bảo-đảm cho chàng gia-nhập tỉnh hội Thừa-thiên. Chàng còn nhớ rõ buối lễ tuyên-thệ mà các bậc đàn anh đã tổ-chức tại con đường nhỏ hẹp nầy, dưới bóng những cây mù u rậm-rạp. Đồng-chí Bùi-thế-Mỹ dẫn chàng đến trường Quốc-tử-giám, giới-thiệu chàng với hai nhà cách-mệnh Thái-Phiên và Trần-cao-Vân, rồi lên đợi chàng ở trên vọng-gác cửa Thượng-tứ, nửa như có ý muốn phòng gian bảo mật, nửa như để ngắm mảnh trăng lưỡi liềm vừa mới xuất-hiện. Hai nhà cách-mệnh dắt chàng đi lui đi tới nhiều vòng trên đại-lộ, chuyện trò thân-mật. Nhà cách-mệnh Thái-Phiên bảo chàng dừng bước và nói khẽ:

- Theo những lời cam-kết của đồng-chí Bùi-thế-Mỹ, theo báo-cáo của tỉnh-hội Thừa-thiên, chúng tôi lấy làm hân-hạnh chấp-nhận đồng-chí Phạm-hữu-Khánh vào Việt-nam Quang- phục hội. Bắt đầu từ giờ phút nầy, đồng-chí phải trung-thành với đoàn-thể, phải hy-sinh tài-sản và tính-mệnh cho đoàn-thể, và nều có sự phản-bội, đồng-chí phải chịu tử-hình. Chàng đưa tay lên trịnh-trọng tuyên-bố,

- Tôi xin thề.

trước mặt hai vị lãnh-t mà chàng vừa mới gặp lần đầu tiên.

Vì muốn hoạt-động tích-cực cho phong-trào cách-mệnh, chàng phải đoạn-tuyệt với cô Lê-thị-Hồng-Vân để cố-gắng xây-dựng cho mình một đời sống lý-tưởng tốt đẹp. Từ đấy chàng không đi về ngã cầu Bạch-hổ; không lần theo những dặm đường thoai-thoải trên tả-ngạn sông An-hòa, không được trông thấy ngôi nhà tranh cũ-kỹ ở bên cạnh một cái ao thả vịt, cũng không bao giờ được thưởng-thức những quả thanh-trà cuối mùa vào tiết lập-xuân. Từ đấy chàng cũng không gặp lại đồng-chí Bùi-thế-Mỹ, người bạn tâm-giao đã kịch-liệt phản-đối một vị giáo-sư Pháp làm tổn-hại đến danh-dự của người Việt-nam, rồi tự ý bỏ học để vào hoạt-động tại miền Đồng-nai lục-tỉnh. Chàng đã hiến-thân cho cuộc đời gió bụi, và chỉ biết có một việc là đem hết tâm-trí và khả-năng ra phục-vụ cho dân-tộc, cho đoàn-thể để cứu-vớt đồng-bào trong cơn hoạn-nạn. Thời-gian gần đây, chàng đã tốt-nghiệp trường Bách-công về ngành cơ-khí, lái xe hơi thông-thạo. Hai nhà cách-mệnh Thái-Phiên và Trần-cao-Vân đã bỏ tiền ra vận-động cho viên tài-xế của vua Duy-Tân xin nghỉ việc và đề-nghị cho chàng vào thay thế. Chàng nhận chức-vụ chưa đầy hai tháng mà đã dò-xét được ý-tứ nhà vua, làm cho ngài đem lòng cảm-mến. Những hình-ảnh một thời dĩ-vãng đã phai lạt dần dần trong ký-ức của chàng, chiều hôm nay bỗng-nhiên sống dậy. Chàng đứng suy-tư giây-lát, rồi gấp bức-thư lại, bỏ vào túi áo, rảo bước lủi-thủi về phía cửa Hiển-nhơn. Khi vào tới Đại-nội thì tiếng trống cà-rầng trên lầu Chương-đức đã gióng canh ba. Đêm ấy chàng ngủ một giấc yên-lành trong toà Thái-miếu, rạng ngày mai, chàng trở về cung Càn-thành để chờ sai-phái.

Hoàng-thượng đã thức dậy sớm hơn mọi ngày và đi dạo ngoài hiên, dưới ánh-sáng  hiền-hòa của vừng đông vừa tỏ rạng xuyên qua mấy bức rèm tứ-ly treo ở ngoài. Nhà vua có vẻ bực-tức, giận-dỗi vì chiều hôm qua ngài vừa mới hội-thương với viên khâm-sứ Charles tại điện Thái-hòa và hai bên đã có những lời qua tiếng lại không được nhã-nhặn. Thấy cơ-hội may-mắn bất-ngờ, chàng chạy ra phía trước, sụp qu xuống, trịnh-trọng dâng bức thư của Việt-nam Quang-phục hội cho vị thiên-tử. Nhà vua không mảy-may ngạc-nhiên, cầm lấy chiếc phong-bì, mở ra xem hết một trang đầu, rồi lại tiếp tục đi bách-bộ, vừa tiến bước chậm-rãi, khoan-thai, vừa lật dần mấy tờ giấy hoa tiên màu nguyệt-bạch. Khi gần tới đoạn kết-luận, ngài dừng lại, chăm-chú đọc mấy hàng chữ sau đây viết bằng mực tàu, nhưng nét bút cứng rắn, linh-hoạt hơn:


Tha Mỹ-quốc hắc-nô chủng-tộc, ngũ thập niên du khả tự-cường.

Huống ngô-dân Hoàng-đế tử-tôn, nm ngũ triệu khởi cam chung nhược.

Thiên khải thánh minh hữu bài Pháp hưng binh chi chí:

Điạ sinh tuấn-kiệt, hữu truất dân thảo tặc chi quyền.

Phụ-hoàng Hoàng-đế hà tội kiến thiên?

Dực-tôn tôn-lăng hà cớ kiến quật?


Đọc xong bức thư, nhà vua cảm thấy bồi-hồi, xao-xuyến như lửa đốt tâm-can, dao cắt thớ thịt, ngài liền gọi vị thanh-niên đến hỏi:

- Khanh có biết ai trao bức điệp-văn ny cho Trẫm không?

Chàng vòng tay lại kính-cẩn thưa:

- Muôn tâu Bệ-hạ, ấy là nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân.

Nghe tên họ một bậc nhân-sĩ có uy-tín trong nước, ngài có vẻ ngạc-nhiên hỏi tiếp:

- Khanh có biết ai thảo bức điệp-văn ấy cho Trẫm hay không?

Chàng không ngần-ngại một mực trả lời:

- Muôn tâu Bệ-hạ, ấy cũng là nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân.

Ngài mĩm cười lật qua, lật lại bức thư năm ba lần rồi hỏi thêm:

- Khanh có biết rõ tài-đức nhà cách-mệnh ấy như thế nào không?

Tới đây chàng có vẻ lúng-túng đôi chút, đắn-đo trước khi trả lời:

- Muôn tâu Bệ-hạ! ngày xưa Cơ-Tử là một bậc thánh-hiền mà không gặp thời, phải đi làm một tên nô-bộc. Còn Quản-Dy-Ngô là một bậc danh-tướng, có tài kinh-bang tế-thế, nhưng chưa gặp đấng minh-quân, cũng đành phải gởi mình vào chốn tù-đày lao-lý. Nói về học-vấn, nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân đã bày ra Trung-thiên-dịch, trên am-hiểu thiên-tài, giữa thấu-triệt nhơn-tài, dưới tinh-thông địa-tài, kiến-thức đâu có chịu thua sút các bậc siêu-nhân trong thiên-hạ. Nói về lục-thao, tam-lược, nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân đã nghiên-cứu tất-cả những binh-thư đồ-trận từ cổ chí kim, đã rút được nhiều kinh-nghiệm trong ba mươi năm tranh-đấu, từ Cần-vương cho tới Đông-du, từ phong-trào Duy tân cho tới vụ Kháng-sưu toàn quốc. Đó là chưa kể những cuộc bạo-động ở Binh-định, ở Phú-yên, những thời-kỳ nằm trù-hoạch phương-châm tại Côn-sơn cũng như tại hầu hết các phối-sở trên lục-địa. Một người có mưu-trí như vậy thì đâu có chịu lép mình trước những vị anh-hùng trong bốn bể. Bấy lâu nay, nhà cách-mệnh  Trần-cao-Vân phải ẩn thân nơi thôn-dã là vì thời-cơ chưa đến, vận nước còn gặp lúc truân-truyên. Tình thế bây giờ đã thay đổi rất nhiều: tại Việt-nam dân-chúng đương nóng lòng chờ đợi một cuộc thay đổi toàn-diện; còn tại Âu-châu, cuộc thế-giới chiến-tranh đã tiến tới một giai-đoạn quyết-liệt. Nếu Bệ-hạ biết trọng-dụng nhân-tài, tìm cách vời nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân ra phò vua, giúp nước thì kẻ hạ-thần nầy dám tin chắc rằng, trong một thời-gian ngắn nữa đại-sự sẽ thành, cơ-nghiệp nhà Nguyễn sẽ cơ vãn-hồi được.

Ngài lắng tai nghe lời ứng-đáp với vẻ hài-lòng và hỏi tiếp:

- Trẫm cũng muốn thực-hiện kế-hoạch của Khanh lắm, nhưng không biết nhà cách-mệnh Trần-cao-Vân có chịu đem hết khả-năng ra giúp đỡ cho Trẫm hay không?

Chàng suy-nghĩ một giây-lát rồi tâu:

- Việc ấy xin Bệ-hạ ủy-thác cho hạ-thần và quan chánh-đội thân-binh Nguyễn-quang-Siêu lo liệu.

Ngài gật đầu, trước khi vào ngự-sàng, còn căn-dặn:

- Khanh phải đi mời quân-sư cho thật gấp, nội trong một tuần lễ phải báo-cáo lại cho Trẫm biết.

Chàng trở về tư-thất, cho mời viên chánh-đội Nguyễn-quang-Siêu, viên thị-vệ Tôn-thất-Đề và viên thơ lại Đoàn-Bông tới hội họp để báo-cáo công việc và cử người đi mời lãnh-tụ. Lúc ban đầu chỉ có đồng-chí Trương-thị-Dương, Đỗ-Quỳnh, Đặng-Hoài, Đỗ-Chiêu, Lê-đại-Bút, Võ-Ngô, Đặng-Tạo, Đặng-khánh-Giai được sung vào phái-đoàn. Vào phút chót theo lời đề-nghị của viên thơ-lại Đoàn-Bông, người ta phải về làng Hà-trung, huyện Phú-lộc, Thừa-thiên để mời nhà cách-mệnh Cữu-Trí cùng đi một thể.

Ngày mười lăm tháng giêng năm Bính-thìn, phái-đoàn nhà vua sắp sửa lên tàu hỏa vào Đà-nẳng thì nhà cách-mệnh Cữu-Trí còn tập-họp các đồng-chí lại nói:

- Tôi bình-sanh không ưa địa-vị cũng không ham tiền-bạc. Lúc tuyên-thệ gia-nhập đoàn-thể, tôi chỉ mong-uớc một điều là khi nào sơn-hà thống-nhất, khởi-nghĩa thành-công, đoàn-thể sẽ cho phép tôi biến sáu ấp Hà-trung, Hà-trữ, Hà-tạ, Hà-đá, Hà-tồn và Hà-châu ở bên kia đầm Cầu-hai thành một xã-hiệu duy-nhất và chỉ có một mộc-triện mà thôi. Nếu các đồng-chí chấp-nhận cho tôi được thực-hiện việc ấy thì dẫu cho có lên rừng bắt cọp, xuống bể mò kim, tôi cũng vui lòng đi theo, nhược bằng toàn-thể phái-đoàn không ưng-thuận thì tôi xin mang khăn-gói đi về nhà cho khỏi tủi-hổ với các bậc tiền-bối trong lân-lý. Viên chánh-đội thân-binh Nguyễn-quang-Siêu đứng dậy tỏ bày ý-kiến:

- Việc ấy không phải là nan-giải; đồng-chí nên cố-gắng theo giúp phái-đoàn cho Hoàng-thượng được vui long. Sau nầy một khi tình-thế đã ổn-định, chúng ta sẽ đặt vấn-đề trở lại và sẽ làm cho đồng-chí được thoả-mãn.

Nghe như vậy, nhà cách-mệnh Cữu-Trí rút khăn chéo ra lau nước mắt và giãi-bày tâm-sự:

- Bọn quan-lại tham tiền quá đỗi, cắt một cái đồng-triện ra làm trăm mảnh mà không gớm tay, dân-chúng bị áp-bức, nhưng ngắn cổ kêu không thấu trời.

Thế rồi phái-đoàn khởi-hành vào Đà-nẳng, thuê ghe mành đi dọc theo con sông Câu-nhí mà tiến về phía nam. Một buổi sớm lúc vừng đông chưa tỏ rạng, họ cập bến Vĩnh-điện. Năm chiếc xe kéo bánh sắt chực sẵn tại đấy. Một người hướng-dẫn vui-vẻ, hoạt-bát chạy lại ân-cần mời họ lên ngồi hai người một chiếc xe, đi thẳng vào phủ-lỵ Điện-bàn, giữa những hàng mù u già-cỗi đã chứng-kiến không biết bao nhiêu cuộc thăng-trầm của dân-tộc. Thỉnh-thoảng người hướng-dẫn lại dừng bước bên cạnh một quán tranh sạch-sẽ để cho quan-khách dùng điểm-tâm, rồi luôn tiện giới-thiệu địa-danh văn-vật những miền chung-quanh. Chỉ tay về phía bắc, y nói:

- Đây là làng Bát-nhị, quê-hương của tiến-sĩ Trần-quí-Cáp; bên kia sông là làng Ngân-câu, quê-hương của hoàng-giáp Phạm-như-Xương và xa hơn nữa là ngôi mộ của nữ thi-sĩ Phạm-thị-lam-Anh.

Đồng-chí Trương-thị-Dương từ nãy đến giờ ngồi trên chiếc xe kéo chạy song song quay lại hỏi:

- Vùng nầy có nhiều bậc khoa-giáp đến thế à?

Với giọng hãnh-diện y tiếp lời:

- Danh-nhân miền Tào-sơn Hàn-hải còn nhiều hơn nữa! Đó chỉ là kể sơ-lược mà thôi.

Đưa tay về phía đông, y nói tiếp:

- Đây là làng Thanh-hà, quê-hương của phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu, bên kia sông là làng Hà-lam, quê-hương của Thủ-tướng Nguyễn-Thuật, xa hơn nữa là ngôi từ-đường của bảng-nhãn Nguyễn-hoằng-Thanh với tấm biễn “Nam-triều đệ nhất văn-chương".

Lúc bấy giờ mấy chiếc xe kéo phải đi chậm lại vì quan-khách đã vượt qua bến đò Phương-trà và đương tiến sâu vào miền Gò-nổi, trung-tâm văn-hóa của tỉnh Quảng-nam. Tiếng máy song cửi vang dậy khắp nơi. Nhà cửa chen-chúc, nối liền nhau. Nhà cách-mệnh Cữu Trí cảm thấy phấn-khởi, xây lại hỏi người hướng-dẫn:

- Vùng nầy có vẻ trù-mật, hữu-tình chẳng khác gì vùng sông Hương núi Ngự bác nhỉ?

Y không biểu đồng-tình:

- Có giống na ná một đôi chút về hình-thức mà thôi! còn về nhân-tâm và phong-thổ thì xa nhau một trời một vực. Vùng nầy  và những làng kế-cận đều có đại-khoa-giáp cả!

Đưa tay về phía trước, y nói một cách tự-đắc:

- Đây là làng Đông-bàn, quê-hương của tiến-sĩ Phạm-phú-Thứ; bên tả là làng Trường-giang, quê-hương của tiến-sĩ Phm-Liệu; bên hữu là làng Xuân-đài, quê-hương của tiến-sĩ Phạm-Tuấn và phó-bảng Hoàng Diệu; còn xa hơn nữa là làng Giảng-hòa, quê-hương của thi-sĩ Huỳnh-Qùi.

Hết chỉ về phía tây, y lại quay mặt về phía nam:

- Đây là làng Tây-lộc, quê-hương của nhà chí-sĩ Phan-tây- Hồ; bên này là làng Thạnh-mỹ, quê-hương của nhà chí-sĩ Nguyễn-Thành; bên kia sông là làng Thanh-bình, quê-hương của tiến-sĩ Huỳnh-thúc-Kháng; xa hơn nữa là ngôi từ-đường của vị danh-tướng Nguyễn-văn-Trương với tấm biễn “Khai-quốc Công-thần Nguyên-luân".

Nhà cách-mệnh Cữu-Trí lắng nghe không ngớt trằm-trồ:

- Bác nói phải đấy, ở ngoài Thừa-thiên làm gì có nhiều nhân-tài đến thế! Thật là địa-linh nhơn-kiệt.

Tiếp theo lời tán-tụng chân-thành ấy, một ngọn gió nồm thổi qua rào-rạt, làm cho nhà cách-mệnh Cữu-Trí buồn ngủ, mắt nửa nhắm nửa mở hỏi bâng-quơ:

- À chết rồi! tôi quên hỏi bác ở làng nào nhỉ?

Y không ngoảnh lại để nhìn cho rõ cứ yên-trí vị quan-khách vẫn còn theo dõi câu chuyện và bắt đầu tường-thuật tiểu-sử của mình:

- Tôi tên là Cao-Triết, biệt-hiệu là Kỉnh-Nam, nên thường gọi là Cao-Kỉnh-Nam. Tổ-tiên vốn ở làng Đông-a, tỉnh Phúc-kiến. Trước kia tổ-phụ tôi muốn lánh-nạn Thái-bình Thiên-quốc nên di-cư sang Việt-nam. Hiện nay tôi ngụ tại ấp La-ngà, thuộc phủ Thăng-ba, ngay dưới chân hòn núi Chóp-chài và chuyên về nghề du-thuyết.

Chưa kịp dứt lời thì chiếc xe đã dừng bánh, y nhảy xuống đất mời quan-khách:

- Đây là ngôi nhà riêng của vị quân-sư, ở làng Tư-phú hạt Điện-bàn. Xin mời qúi ngài vào.

Phái-đoàn vào tư-thất ngồi chờ mãi đến khoảng đầu canh hai, nhà cách mệnh mới xuất-hiện. Lúc mới bước vào ngưỡng cửa, công việc trước hết của vị quân-sư là khẩn-khoản xin lỗi phái-đoàn:

- Tôi nôn-nả đi về cho kịp để hầu chuyện với quý ngài nhưng ở giữa đường con ngựa bị đứt dây. Trời tối quá, tôi phải ghé vào thôn xóm để xin người hộ-tống.

Hai bên tân-chủ ngồi vào ghế trường-kỷ nói chuyện. Cuộc mạn-đàm kéo dài cho tới lúc vừng đông. Cuối cùng nhà cách-mệnh Cữu-Trí lấy mật-chỉ nhà vua trao lại cho vị quân-sư và nói chậm-rãi:

- Vừa rồi Hoàng-thượng có nhận bức điệp-văn của đồng-chí. Ngài rất hoan-hỉ và muốn gặp mặt đồng-chí ngay để cùng nhau bàn tính việc nước. Lúc sai phái chúng tôi vào Quảng-nam để mời đồng-chí, ngài có tiếp-kiến chúng tôi tại chánh-điện, ân-cần nhắc-nhở chúng tôi phải đi cho thật nhanh và phải trở về báo-cáo lại công-việc nội trong một tuần lễ bái. Chúng tôi mong rằng đồng-chí không quản-ngại khó-nhọc và chuẩn-bị lên đường cùng một lượt với chúng tôi để cho khỏi phụ tấm lòng của đấng thiên-tử.

Vị quân-sư ứng-đáp:

- Việc đoàn-thể tôi không dám từ-nan, nhưng trước khi bệ-kiến Hoàng-thượng tôi còn phải trù-liệu một vài phương-sách với đồng-chí Thái-Phiên và bác-sĩ Lê-đình-Dương. Tôi xin mời phái-đoàn ở lại đây tạm nghỉ một thời-gian rồi chuẩn-bị về Huế để tâu với Hoàng-thượng rằng nội trong ngày hai mươi bảy tháng giêng nầy tôi sẽ có mặt tại Thuận-hóa.

Nói xong, vị quân-sự lấy một phong bì chữ nhật có dán sọc đỏ theo lối Trung-hoa trao cho phái đoàn và căn-dặn thất kỹ từng người một:

- Tt cả chủ-trương, kế-hoạch đã có sẵn trong bức mật-thư nầy. Đồng-chí Phạm-hữu-Khánh sẽ tiếp-nhận lấy và đệ-trình lên đấng Kim-thượng vào lúc nào xét ra thích-hợp. Các đồng-chí nên hết sức cẩn-thận để cho tin-tức khỏi tiết-lộ ra ngoài.

Nghe như vậy, các vị quan-khách nâng cốc lên tuyên-thệ:

- Chúng tôi xin hy-sinh tính-mệnh, tài-sản để phục-vụ cho nhân-dân và giữ tâm trung-thành với lãnh-tụ.

Phái-đoàn trở về Huế, còn chủ-nhân thì xuống Hội-an để hội-đàm với bác-sĩ Lê-đình-Dương.


Trở về Mục Lục                                     Đọc chương kế tiếp