Nghĩa-khí của Trần Châu


Chợ Đồng-phú, ở về huyện Quế-sơn thường có vẻ náo-nhiệt, nhất là về buổi sáng. Mặt trời chưa lên, dân-chúng từ bốn phương đã kéo về chật cả đường-sá, người mang theo những chuỗi tiền đồng, tin kẽm nặng trĩu trên tay, kẻ chở vật hạng trong những giỏ bằng tre, những đôi bầu bóng-loáng. Họ đều mặc áo vải ta nhuộm màu chàm theo lối cổ-truyền của người dân bản-xứ. Những kẻ khá-giả hơn mới có chiếc áo lụa nâu dịu-dàng, tao-nhã hay chiếc áo Hồng-mao trắng xóa. Trong chốc lát, họ đã tới chiếm tất cả các gian lều nhỏ ẩm-thấp, xây-dựng hai bên đường tỉnh-lộ, cười nói om-sòm, y hệt như trong một ngày trẩy hội. Trên những bộ phản gỗ tồi-tàn, cũ-kỹ, những chiếc giường tre xiêu vẹo với thời-gian, hàng-hóa được bày ra la-liệt. Những thứ hoa-quả rất quen thuộc ở miền Trung-châu, chen lẫn với những sản-phẩm xa-lạ mang lại từ những vùng núi non cao thăm thẳm hay từ cửa Đại-an, Đại-áp. Vì vậy, bên cạnh những hàng vải bô, hàng tơ-lụa ngoạn-mục, lại có những hàng cá kho, cá ướp sáng ngời dưới ánh bình-minh. Những tên mọi Cà-doạt, mọi Cõng-vang đương ngồi bán trầm-kỳ, gạt nai và sừng tê-giác.

Sáng hôm nay, trái với thường lệ, vầng thái-dương đã lên khá cao, tỏa hào-quang trên khắp các nẻo đường mà chợ Đông-phú vẫn còn thưa-thớt. Quán-xá chỉ có vài hàng bánh bèo, bánh đúc, người bán ngồi phe phẩy chiếc quạt mo trên tay để xua đuổi đám ruồi lằng hôi-hám. Vài tên phu-trường lo tìm thức ăn lót dạ để chốc lát phải quảy bao tời trở về xứ sở. Ngoài những hạng người rất thân-mật ấy, trong ngôi đình-thị, rải-rác có một vài đứa hành-khất mang bị gậy đứng nhìn ngơ-ngác, một vài con chó vô-sự đương quắp đuôi chạy nghêu-ngao hay một vài con gà chọi mặt đỏ gay, đương dắt nhau đi tìm thức ăn rơi rớt . Sáng hôm nay, chợ không đông vì dân-chúng phải nghỉ việc để làm lễ kỷ-niệm ngày thành-lập Nghĩa-hội. Thấy khách-khứa vắng tanh, nhà cửa bỏ trống trải, Trần-Châu cắp dù rảo bước một mình, hết đi lui rồi lại đi tới như có ý tìm tòi một vật gì vừa mới bị đánh rơi. Hắn mặc chiếc quần dài bằng thao nhùng-nhục, chiếc áo lỡ bằng nhiễu đã chạy đụng nhiều nơi và thắt chiếc dây lưng hổ-hoàng buông lòng-thòng tới đu gối. Không chít khăn đen như các vị bô-lão trong làng, hắn đã xuống trạm Hương-an thuê người cạo hết mái tóc cho gọn-gàng, nhẵn-nhụi từ khi có phong-trào Cần-vương. Trong một tuần lễ bái gần đây, bổng dưng hắn cảm thấy khó chịu trong mình. Tóc càng mọc dài ra càng làm cho hắn xốn-xang, ngứa-ngáy, gia-dĩ nhiều sợi phản-bội lại dựng lên lởm-chởm y hệt những thân cây trong một khoảng rừng vừa mới bị đốn phát. Tuy vậy, lối hớt này vẫn thích-hợp với thân-hình vạm-vỡ và khuôn mặt chữ điền đầy nghị-lực của hắn,  làm cho cặp mắt diều-hâu, cái thượng-đỉnh hơi khuyết-hãm của hắn có vẻ rộng rãi, sáng-sủa thêm lên một chút. Ý chừng hắn muốn đi tìm một người thợ cạo mà lại không được thỏa-mãn. Với những bước chân khoan-thai như một con hổ, hắn tiến về phía cây bồ-đề, chui vào trong một cái điếm, lật những tờ chỉ-thị bằng chữ nôm ra đọc lẩm-nhẩm. Mắt hắn để ý ngay tới mấy hàng chữ như sau viết bằng bút lông, đường nét khá rõ-rệt:

"Theo lệnh Tân-tỉnh, nha tôi loan-báo cho đồng-bào đều biết rằng bọn Tây-nô và lũ tay sai của chúng nó đương hoành-hành phá-phách khắp mọi nơi. Vậy đồng-bào phải tận-lực diệt-trừ quân địch. Người nào giết được một tên lính Pháp, lấy đầu đem về trình-nộp sẽ được thưởng năm quan tiền, bắt sống đem về giao cho nhà chức-trách sẽ được thưởng gấp đôi, còn giết hay bắt được những tên Việt-gian bán nước, sẽ được thưởng một quan tiền và sẽ được miễn sưu-thuế, tạp-dịch trong một thời-hạn là ba năm"

Đọc xong bảng thông-cáo của viên tri-huyện Quế-sơn, hắn mừng lắm, không kịp suy-nghĩ, vội-vàng quay gót để lên đường. Hắn về tới làng Ngô-cang, chạy một hơi vào trong xó bếp, gọi vợ hắn đương lúi-húi thổi lửa ra mà nói một cách trịnh-trọng:

- Mẹ chúng nó phải ở nhà trông nom mấy đứa trẻ, tao đi xuống phố chiều mai mới về được.

Vợ hắn không hiểu cớ-sự ra làm sao, chận hắn lại hỏi tới-tấp:

-Ông đi làm việc gì? sao không bảo thằng cu lớn nó đi theo cho có bạn?

Hắn không muốn trả-lời, gạt vợ ra một bên, nói một cách dứt-khoát:

- Đàn bà, con nít biết đâu đến việc quan, việc nước mà hỏi cho thêm chuyện.

Nhanh chóng cởi ngay chiếc áo dài, vứt bừa trên chỏng tre, hắn luôn tay vớ lấy cái rựa quéo cán lụi thật dài và cái gươm để trên bàn thờ rồi ra đi một cách bí-mật.

Tới trạm Hương-an, chỗ giáp-giới với con đường thiên-lý, dừng bước, nhìn khắp cảnh vật một hồi, hắn thấy hai tên mục-đồng đương đùa giỡn với con sáo-nghệ trên bãi cỏ, liền thong-thả tiến lại gần ướm hỏi:

-Tụi Pháp dạo này có lui tới xóm mình không rứa hai chú?

Tên chăn trâu trẻ tuổi có vẻ lanh-lợi hơn, liền đứng tách ra một bên lấy con roi mây chỉ về phía bên kia sông Rù-rì mà nói như người thông-thạo:

- Có lắm chứ! một tốp lính Bắc-Phi quần rộng, băng đỏ, vừa mới nghỉ chân tại Trảng-chuỗi, hiện giờ họ còn phải vào đồn Hà-lam để thay phiên gác. Nhiều lắm và dữ-tợn lắm đấy! liệu hồn mà bàn-tán!

Nghe nói như vậy, hắn nghĩ thầm trong bụng "mấy thằng ranh con nầy lại học thói rung cây nhát khỉ. Tớ mà khiếp-nhược trước mặt bọn Tây-nô thì chẳng bén-mảng xuống đây làm gì! Ừ, được rồi! Chúng nó mới đi vào, lẽ tất-nhiên không sớm thì chầy cũng phải trở về đồn Bà-rén. Ta cứ nấn-ná ở lại mà chờ tại ngả ba nầy một hai bữa. Có chạy đàng trời mới lọt!". Sắp đặt xong xuôi, hắn liền ngồi bệch trên bãi cát nhìn vơ-vẩn. Trong giây lát, hắn bị thôi-miên bởi giòng sông Rù-rì đương chảy quanh-co như một sợi ch bạc. Có một lúc chăm-chú lắng tai, hắn thoáng nghe tiếng vó-câu từ phương xa đưa lại mỗi lúc mỗi rõ-rệt đều-đặn hơn. Nhất-thời bị giao-động, hắn đứng phắt dậy như một người vừa mới lên đồng. Nhìn hồi lâu, hắn thấy một viên chỉ-huy Pháp đội mũ cối trắng, mặc áo ka-ki vàng, tay cầm dây cương, chân mang giày ống, đương ngồi trên mình con ngựa kim to lớn tiến về phía nam. Chỉ một chốc sau, người khách lạ tiến tới dần, trông kỹ hơn hắn lấy làm ngạc-nhiên: hắn chú-ý đến cái thân-hình to lớn, chòm râu coi nón màu huyền xinh đẹp, cặp mắt trong-sáng màu thanh-thủy, nhất là cái diện-mạo khôi-ngô tuấn-tú, thái-độ hiền-hậu khoan-thai của một người da trắng mà từ trước đến nay hắn chưa bao-giờ trông thấy. Phương chi theo sau chủ-nhân lại còn có một con chó ngao màu nâu to gấp đôi gấp ba lần những loài muông-cẩu tại Việt nam. Hắn cảm-thấy hồi-hộp, choáng-váng! nhưng đã trấn-tỉnh được ngay mối cảm-xúc,  mạnh-dạn đứng nép vào bờ giậu rậm-rạp, nhón chân lên giả-vờ ngoặc những cành tre khô, khoèo một vài sợi mây nước. Viên chỉ-huy đồn Bà-rén cứ việc thong-dong cho ngựa tiến tới, không tỏ vẻ lo-ngại gì hết. Lốp-cốp, lốp-cốp. Tiếng vó câu nện trên đuờng đá sỏi dội vào tâm-cang của hắn, gây nên một dư-âm là-lạ, vô-cùng mạnh-mẽ. Liếc mắt nhìn trộm, hắn thấy địch-thủ của mình đã tiến tới thật gần, chỉ còn cách không hơn vài thước mộc, vừa tầm cái roi hắn thường ngày dùng để biểu-diễn thảo-ngũ-môn cho bọn lính Đoàn-kiết trong xã. Quay phắt lại, rồi nhanh như chớp, vừa loan-thế, vừa nắm chặc cái rựa quéo quật cho kẻ thù một vố thật đáo để làm cho con ngựa phải đứng trồng lên kêu rống ầm-ĩ. Viên chỉ-huy Pháp chao mình ngã lăn xuống đất. Lúc bấy giờ sát-khí đã hiện rõ trong thái-độ, mái tóc,  làn da và nhất là trong cặp mắt diều-hâu đỏ gay, sắc bén, chẳng nói chẳng rằng, hắn liền xông tới và không để cho kẻ thù chồm-ngồm ngồi dậy, nhanh nhẹn hắn rút thanh bửu-kiếm đeo sẵn bên hông, tặng cho kẻ thù một nhát xuyên qua cuống họng. Thấy máu từ cổ phun ra thành vòi, chảy lênh-láng trên bãi cỏ, hắn nín thở đứng nhìn một hồi lâu, vẻ mặt lạnh-lùng, tàn-nhẫn. Một khi sát-khí đã tiêu-tan, y hệt như cơn gió nồm vừa mới thổi qua hiu-hắt trên bãi cát Liều-trì ngoài Trảng-chuỗi, hắn vội-vàng nhặc lấy cái thủ-cấp, bỏ vào trong chiếc bị-rết, chạy một hơi về Tân-tỉnh để xin vào yết-kiến quan tổng-đốc Nguyễn-duy-Hiệu. 

Nhiều ln, đã thân-hành ra tỉnh cũ ở Vĩnh-điện để hầu án-tiết, hắn không hề cảm-thấy ngợ-ngàng một chút nào hết. Lần nầy là lần đầu tiên hắn mới bén-mảng tới đồn Trung-lộc, mới thấy Tân-tỉnh. Thành-trì, dinh-thự, quang-cảnh ở đây vẫn không có gì thay đổi. Không hiểu tại sao vừa mới bước vào tỉnh-đường, đứng nhìn tất cả những công-trình các bậc văn-thân đã xây-dựng để làm cơ-sở cho việc chiến-đấu giành lại độc-lập cho xứ-sở, gieo tấm lòng ái-quốc trong lòng người dân, tự-nhiên hắn cảm thấy bùi-ngùi với một tấm lòng thành-kính không bờ bến. Mạnh dạn, hắn tiến vào phòng giấy quan tổng-đốc mà không cần phải báo trước, yên trí rằng hắn có tới đây cũng vì công việc chung của tổ-quốc chứ không phải vì quyền-lợi riêng của một người nào hết. Chưa qua ngưỡng-cửa hắn đã nói lên oang-oang:

- Quan lớn vừa mới ra lệnh bình Tây sát tả, tuân theo chỉ-thị của cấp trên tôi đã phục-kích, hạ-sát được viên chỉ-huy đồn Bà-rén và cắt xong cái thủ-cấp, xin đem lên nộp quan lớn để cứu-xét.

 Vừa dứt lời hắn cúi xuống, lấy cái đầu lâu trong bị rết ra đặt ngay trên chồng hồ-sơ tử-tập của vị thủ-hiến. Tổng-đốc Nguyễn-duy-Hiệu mừng-rỡ không xiết, bèn gọi lính-tráng dọn một bữa tiệc rượu, đích-thân rót cốc mai-quế-lộ mời hắn. Xong rồi lấy mười quan tiền bỏ vào trong chiếc đãy của hắn mà vỗ-về, an-ủi. Hắn không chịu nhận, lấy món tiền thưởng-lạo trở ra, giao cho vị thủ-hiến, nói mấy lời từ-chối:

- Tôi lên đây không phải vì danh-vọng, vì quyền-lợi cá-nhân, tôi giết Tây để trả-thù cho đất nước, tôi chỉ mong cùng quan lớn, ngồi đối-diện chân-thành nâng chén rượu-đào một lần nữa để chúc mừng cho nghĩa-đảng.

Hết chén nầy đến chén khác, uống một hơi cho tới khi mặt đỏ gay, hai chân bước đi chếnh-choáng, hắn vẫn còn đủ trí sáng-suốt để nói mấy lời cảm-tạ ân-cần. Cuối cùng tay xách bị rết, tay chống cái rựa quéo, hắn ra về trước những tiếng hoan-hô khích-lcủa mọi người. Về tới chợ Đông-phú, mỏi chân, hắn vào tạm nghỉ trong một cái quán xiêu vẹo ở bên đường. Sau khi uống hết hai bát nước chè đặc như thuốc bắc, hắn mới chú-ý lắng nghe bọn lái-buôn, kẻ đi xuôi, người đi ngược, bàn-tán về trận phục-kích vừa xảy ra ngày hôm qua. Bây giờ hắn mới thấy những hậu-quả tai-hại về cuộc thí-võ của mình. Chính trong khi từ-giả trạm Hương-an để chạy về Tân-tỉnh báo công-trạng thì ở đàng sau hắn, con chó ngao màu nâu và con ngựa kim, hai con vật khôn-ngoan và trung-thành, đã vội-vàng theo con đường củ quay trở về đồn Bà-rén để báo tin dữ. Tức thì bọn lính Ả-rập kéo từng tốp đổ xô ra đi tìm khắp nơi. Một khi tới chặng ngả-ba nơi vừa mới xảy ra vụ phục-kích, thấy vết máu còn dính loang-lổ ở hai bên đường và biết đích-xác chủ-nhân đã bị sát-hại, chúng bèn chỉa súng vào trong thôn-xóm bắn phá tan-tành, làm chết nhiều người cả già lẩn trẻ. Hắn không còn tự-hào là một vị anh-hùng như nhiều người quá hâm-mộ muốn gán cho hắn, hắn cũng không có cảm-tưởng gì rỏ-rệt về những hành-động của mình, nhưng một khi về đến nhà, sực nhớ đến những kẻ vô-tội vì rủi-ro phải bị tử-thương, hắn lại bùi-ngùi khôn xiết. May mà hôm qua hắn đã từ-chối tất cả những thứ ân-huệ mà các vị văn-thân đã thật tình muốn ban-thưởng. Tiền bạc hắn cũng không màng, phẩm-hàm hắn cũng không thiết. Nếu chẳng may hôm qua hắn đã theo danh-lợi, đã ham mồi phú-quí, đã dự miếng đỉnh-chung thì hắn phải ân-hận đến bao giờ mới hết!