Nam Nghĩa phân tranh


Bây giờ là mùa hạ năm 1886. Tỉnh Quảng-nam vừa trải qua một giai-đoạn tai-ương hoạn-nạn, hết nạn sâu-bọ đủ các loại, nạn châu-chấu phá-hoại mùa-màng, hoa cỏ, lại tới nạn đậu-trời, nạn giặc-giã làm cho dân-chúng chết chóc, mười phần hết năm, hết bảy. Quân Pháp mở rộng phạm-vi chiếm-đóng, kim-soát cả miền sơn-cước, thiết-lập tới ba mươi sáu đồn lũy từ nam chí bắc, từ biển Đông tới dãy núi Trường-sơn. Gái trai, già trẻ phải lo chôn cất của-cải vàng bạc rồi kéo nhau tản-cư vào trong rừng núi, che lều làm trại mà ở, chịu đựng không biết bao nhiêu là sự khổ nhọc.

Tức cảnh sinh tình, tú-tài Huỳnh-Quì có viết một bài thơ "Cảm-ngộ" như sau:


Mưa từng trận, gió từng hồi,

Mới đó giang-sơn nước khỏa rồi.

Lũ kiến bất tài tha trứng chạy,

Chòm rêu vô-dụng kết bè trôi.

Chít-chiu rừng rậm chim kêu đói,

Lởm-chởm giường cao chó nhảy ngồi.

Nỡ để dân đen bùn lấm thế,

Nào ông Hạ-Võ ở đâu ôi!


Phó-bảng Nguyn-duy-Hiệu nghe bài ấy và nhất là bài "Vịnh hát bội" đã truyền-tụng về trước, có ý giận lắm, bèn đòi vào dinh-thự của mình ở Tân-tỉnh và muốn tra cho cái tội phỉ-báng. Vị thủ-hiến chỉ con dế nhủi đương bay qua bay lại bên ngọn đèn dầu hỏa mà bảo rằng:

- Ông hay thơ lắm, thử đọc lên một bài nghe mau!

Tú-tài Huỳnh-Quì ứng-khẩu đọc ngay tức-khắc:


Kiến chẳng phải kiến, voi chẳng voi,

Trời sinh dế nhủi cũng choi-choi.

Ngắn cánh, lên trời bay chẳng thấu,

Co tay vạch đất, cũng khoe tài.

Mưa sa, nước chảy, lên cao ở,

Lửa đỏ, dầu sôi, nhảy tới chơi.

Quân-tử có thương, xin chớ phụ,

Lăn-xăn bay nhảy để mà coi!


Đọc đến câu nào, phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu cũng rung đùi quay mặt lại hỏi ông Nguyn-đình-Quýnh, đặc-phái-viên của tiến-sĩ Phan-đình-Phùng, từ miền Nghệ-tịnh, mới theo đường thủy vào, đương ngồi dự-thính bên cạnh.

- Ngài có cho bài thơ nầy là tuyệt-bút hay không?

Vị thượng-khách gật đầu không trả lời, rồi ba người hòa nhau lại, rượu chè trò chuyện một cách thân-mật. Giờ lâu họ mới phân-tán, phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu mời vị thượng-khách sang hành-cung dự cuộc tập-hợp bất-thường do Nghĩa-hội triệu-tập.

Trong buổi hội-nghị, phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu trình-bày về chiến-sự tại miền nam xứ Trung-kỳ, gián-tiếp đặt dưới quyền lãnh-đạo của mình.

-Sau ngày kinh-đô thất-thủ, vua Hàm-Nghi xuất-bôn, gởi lại giang-sơn cho thần-dân qua một tờ mật-chiếu. Tại Quảng-nghĩa, cử-nhân Lê-trung-Đình, người làng Phú-nhơn, phủ Sơn-tịnh và tú-tài Nguyn-tự-Tân, người phủ Bình-sơn cho người tới thương-thuyết với chánh-quyền địa-phương. Tuần-vũ Lê-Thụy hứa sẽ nộp thành-trì và tham-gia cách-mạng. Một mặt khác, cử-nhơn Lê-trung-Đình lên hội-đàm với sơn-phòng-sứ Nguyn-Thân, lúc bấy giờ còn đóng quân tại xã Vạn-lý, thuộc huyện Mộ-đức. Nguyễn-Thân cũng bằng-lòng và hứa sẽ đem quân về trợ-lực. Một khi cử-nhơn Lê-trung-Đình đã ra về, Nguyễn-Thân viết thơ hỏi ý-kiến nhạc-gia là cụ Thượng Hàng-Xoài, ở tại phủ Bình-sơn và sau đó thay đổi lập-trường. Nguyễn-Thân cho người xuống nói với tuần-vũ Lê-Thụy và án-sát Nguyễn-đình-Cung nên cố-gắng cầm-cự, lính sơn-phòng sẽ kéo về đánh giải-vây. Ngày mười bốn tháng bảy năm 1885, tú-tài Nguyễn-tự-Tân ra lệnh cho võ-sĩ Trần-Thú, người ở chợ Thu-xà, thuộc huyện Tư-nghĩa, xông vào đồn Cổ-lũy, hạ-sát viên Tây thượng-chánh, rồi đốc-xuất dân-chúng tới hiệp với lực-lượng của cử-nhơn Lê-trung-Đình mà bao-vây tỉnh-thành. Tuần-vũ Lê-Thụy không dám ra đương đầu với giặc, phải giao việc chỉ-huy cho án-sát Nguyn-đình-Cung. Hai bên cứ đánh cầm chừng, bên nào cũng có ý chờ viện-binh, nhưng lúc ấy Nguyễn-Thân vẫn ở yên tại miền sơn-cước. Không chịu nỗi, cử-nhơn Lê-trung-Đình phải cho nghĩa-binh dùng thang trèo lên vọng gác, lén trà trộn vào trong đám lính triều-đình, tới chiếm-đoạt cửa thành. Cử-nhơn Lê-trung-Đình dẫn quân ồ-ạt tiến vào, đi một mạch tới công-đường, bắt án-sát Nguyễn-đình-Cung chém ngay tại chỗ và bắt tuần-vũ Lê-Thụy giam giữ để chờ ngày luận tội. Đoạn, cử-nhơn Lê-trung-Đình vào nhà lao giải-phóng cho đức Tuy-Lý, con vua Minh-Mạng, bị phát-vãng tại Quảng-ngãi, từ khi xảy ra vụ án Hồng-Bảo và tôn ngài lên làm Phụ-quốc-vương. Cuộc đảo-chính đã hoàn-thành mau chóng làm cho Nguyễn-Thân phải một phen bối-rối. Liền sau đó, Nguyễn-Thân lại viết thông-điệp gởi cho cử-nhơn Lê-trung-Đình xin đem toàn lực về hợp-tác. Các vị văn-thân tưởng là thiệt, nên không lo đề-phòng. Ngày hai mươi tháng bảy năm 1885, Nguyễn-Thân dẫn một toán lính mọi lấy ở những vùng Ba-tơ, Trà-bồng và Đá-vách rầm-rộ kéo về tỉnh-lỵ trước sự hoan-hô nhiệt-liệt của dân-chúng. Cử-nhơn Lê-trung-Đình, tú-tài Nguyễn-tự-Tân thân-hành ra nghênh-đón tại cửa chính tây. Nguyễn-Thân đi trước, ngồi trên một con ngựa ô cao lớn, đoàn tùy-tùng mang súng ống theo hầu hai bên, oai-nghiêm, dõng-dạc như một vị tướng-lãnh đương ca khúc khải-hoàn. Đoàn quân giải-phóng vừa mới dừng lại trước dinh quan tuần-vũ, các vị chỉ-huy vừa mới bước lên bậc tam-cấp để tiến vào khán-đài, bất thình-lình từ trong đám quần-chúng có tiếng loa vang lên nghe rỏ mồn một:

- Tôi nghĩa-định sơn-phòng-sứ Nguyễn-Thân, có trách-nhiệm về đây để tiểu-trừ bọn phiến-loạn. Tôi ra lệnh cho tất-cả sĩ-dân phải tức thời giải-giáp và ra qui-hàng. Những kẻ bất-tuân sẽ chiếu theo quân-luật mà nghiêm-xử.

Cử-nhơn Lê-trung-Đình, tú-tài Nguyn-tự-Tân biết mình đã bị mắc-mưu, vội-vả lánh mình để tìm cách đối-phó, nhưng vừa mới quay gót thì đã bị quân sơn-phòng giữ lại. Trong giây lát họ phân nhau đi chiếm cứ các nơi xung-yếu. Nghĩa-binh bị tấn-công bất-ngờ , thiếu cấp lãnh-đạo, mất tinh-thần, phải giao lại tất cả đồn trại, dinh-thự mà tẩu-thoát. Cuộc đảo-chánh lần thứ hai nầy đã xảy ra một cách ôn-hòa, mau chóng hơn lần thứ nhất. Làm chủ được tình-thế, Nguyễn-Thân bèn đem cử-nhơn Lê-trung-Đình, tú-tài Nguyễn-tự-Tân và mười hai vị chiến-sĩ nữa, ra chém tại bến đò sông Trà-khúc. Vài tuẫn lễ sau, võ-sĩ Trần-Thú cũng bị bắt và bị hành-hình tại bể Hà-khê, trên bờ sông Vệ. Cuộc khởi-nghĩa Cần-vương đã bị dập tắt ngay trong thời-kỳ phôi-thai.

Còn tại Bình-định, tình-hình cũng biến-chuyển một cách mau chóng.

Sau ngày kinh-đô bị thất-thủ, cử-nhơn Đào-doãn-Địch, người làng Tùng-giảng, huyện Tuy-phước, lúc ấy đương làm quan tại Huế, liền rời bỏ trú-sở để về quê-hương tổ-chức cuộc khởi-nghĩa chống Pháp.

Tổng-đốc Bình-định là Lê-bá-Thận, án-sát là Nguyễn-danh-Cung bằng lòng hợp-tác. Nghĩa-binh gồm có sáu trăm lính Nam-triều và một số người vừa mới chiêu-mộ, trang-bị bằng súng thần-công, giáo sào, lưỡi mác, bắt đầu giao-phong với đoàn quân tinh-nhuệ của Pháp, tại Cần-úc thuộc huyện Tuy-phước. Bị thất-bại, cử-nhơn Đào-doãn-Địch phải rút lui về giữ thành Bình-định, rồi thấy tình-thế bất-lợi, lại cùng với các vị văn-thân lên lập căn-cứ tại đèo An-khê. Khi ấy có cử-nhơn Mai-xuân-Thưởng và nhà cách-mệnh Tăng-bạt-Hổ ra giúp sức. Vào tháng mười năm 1885, cử-nhơn Đào-doãn-Địch lâm-bệnh và mất tại miền sơn-cước. Cử-nhơn Mai-xuân-Thưởng lên thay thế, làm lễ tế cờ tại bãi Cây-muồng, thuộc về xã Phú-lạc. Từ đấy, nghĩa-binh thường hay kéo về miền duyên-hải, đánh xáp lá cà với Pháp tại những trận Cẫm-văn, trận Thủ-thiện, làm cho đối-phương phải kinh sợ. Sau những trận kịch-liệt ấy, viên chỉ-huy lực-lượng Pháp tại Bình-định là đại-tá Dumas phải trở về Sài-gòn để xin viện-binh. Cử-nhơn Mai-xuân-Thưởng cũng phải lo gởi người vào Phú-yên, Khánh-hòa để thôi-thúc các vị văn-thân và đưa thư ra Quảng-ngãi hiếu-dụ sơn-phòng-sứ Nguyễn-Thân lúc bấy giờ đã rời bỏ miền sơn-cước và đã kéo binh về chiếm-đoạt tỉnh-thành. Nguyễn-Thân bằng lòng. Ngày mồng hai tháng tám năm 1885, cử-nhơn Mai-xuân-Thưởng kéo một toán quân, đông chừng năm ngàn người, ra Quảng-nghĩa để phối-hợp với Nguyễn-Thân mà giữ miền sông Trà-khúc. Chẵng ngờ viên sơn-phòng-sứ đã ngấm-ngầm theo giặc Pháp từ lâu, đã phục-binh sẵn tại đèo Bình-đê. Toán quân Bình-định vừa mới ra khỏi làng-mạc, tiến vào rừng núi, thì ở hai bên con đường thiên-lý tiếng súng nổ lên vang trời dậy đất. Kế tiếp theo đó, lính Quảng-nghĩa từ trong những bụi rậm lại ồ ạt xông ra, lấy mã tấu và giáo sào mà huyết-chiến. Toán quân Bình-định bị đại-bại, nằm chết ngổn-ngang, ròng-rã một tháng mà không có người chôn cất. Thật là một tấn-tuồng thê-thảm trong lịch-sử nội-chiến của dân-tộc Việt-nam. Sự phản-bội của Nguyn-Thân đối với cử-nhơn Mai-xuân-Thưởng và nhất là việc hạ-sát nhà chí-sĩ Lê-trung-Định, bẻ gãy hẳn cái trục Nam-Nghĩa-Định, đã gây ra một mối hiềm-khích rất lớn trong dân-chúng. Cuộc bang-giao giữa hai tỉnh Quảng-nam và Quảng-nghĩa, do đó càng ngày càng trở nên trầm-trọng. Trước hết phó-bảng Nguyn-duy-Hiệu viết thơ cho sĩ-dân miền sông Trà-khúc đòi phải trả Phan-Dịch, người Quảng-nam, lúc bấy giờ làm tri-phủ Sơn-tịnh. Nguyễn- Thân không chịu, lại còn yêu-cầu sĩ-dân miền sông Thu-bồn phải giao-hồi kẻ thù của ông là ấm-sanh Nguyễn-bá-Loan, thứ nam của tổng-đốc Nguyễn-bá-Nghi, người Quảng-nghĩa, đương giúp việc cho phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu. Hai bên cứ thơ qua thơ lại mãi, không có bên nào chịu nhượng-bộ. Lúc ban đầu, đôi bên còn dùng lời lẽ khiêm-tốn, nhã-nhặn, nhưng về sau, Nguyễn-Thân cậy thế có người Pháp trợ-lực ở đàng sau, bèn gởi cho phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu một bức thông-điệp vừa ngạo-mạn, vừa có ý hăm-dọa:

"Tỉnh tôi sát hại cử-nhơn Lê-trung-Định, tú-tài Nguyễn-tự-Tân là để vãn-hồi an-ninh trật-tự cho dân-chúng. Quí- chức vẫn lấy việc bình-Tây sát tả làm tự-hào, nhưng thiết-tưởng tại cửa Hàn và tại làng Trà-kiệu, người Pháp vẫn tụ-tập như thường. Quí-chức không đủ lực-lượng bảo-toàn những nơi ấy, mà còn lăm-le lấn-bức tỉnh chúng tôi. Tiến-sĩ Trần-văn-Dư khởi-nghĩa như thế nào, thành-công như thế nào? Cái gương xe úp kia không còn xa nữa, quí-hội hãy tính lấy".

Lời lẻ đó làm nhiều sĩ-dân Quảng-nam phừng-phừng nổi giận, quyết-tâm trừ diệt Nguyn-Thân, bàn tính với nhau đem binh-lực vào Quảng-nghĩa mà đánh trả thù. Tán-tướng quân-vụ Nguyễn-Thành tức Tiểu La, giữa hội-nghị đã tìm đủ các lý-lẽ để khuyên ngăn:

- Nghĩa-binh của Nguyễn-Thân từ nha sơn-phòng kéo về gồm có nhiều đơn-vị tinh-luyện, có đủ súng ống đạn dược do người Pháp cung-cấp; còn lính Quảng-nam chỉ có những dân quân toàn trang-bị bằng những thứ vũ-khí thô-sơ. Thực-lực của Nghĩa-hội Quảng-nam chưa vững chắc mà không lo nuôi-dưỡng, cứ tìm cách khiêu-khích lẫn nhau, gây ra cái cảnh anh em tàn-sát lẫn nhau, chỉ lưu lại một dấu vết không tốt về sau.

Đa-số sĩ-dân không tán-thành những lời phân-giải ấy. Họ hội-họp riêng để tìm cách lôi kéo phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu vào con đường tác-chiến. Cuối cũng phe bạo-động thắng-thế và bầu hai vị tướng-lãnh là tham-mưu-trưởng Nguyễn-Duật, cử-nhơn Trần-Hoàn lên để điều-khiển cuộc viễn-chinh. Tán-tướng Nguyễn-Thành tức Tiểu-La không tham-dự trn nầy.

Nguyn-Duật, người làng Hà-lam, phủ Thăng-bình, là em ruột phó-bảng Nguyễn-Thuật, một vị túc-nho không những có nét bút tinh-xảo như Vương-hy-Chi mà lại còn có cái tài học rộng của Vương-an-Thạch. Phó-bảng Nguyễn-Thuật, thường gọi là cụ Hà-đình, lúc bấy gìờ làm thượng-thơ tại triều-đình. Nguyễn-Duật lãnh chức bá-hộ, về sau lại đỗ cử-nhơn nên được gọi là cử-bá. Lúc phong-trào văn-thân mới nhóm dậy, Nguyễn-Duật cũng dựng cờ khởi-nghĩa, cũng chiêu-mộ binh-sĩ để gây uy-thế cho mình. Tại Hội-an, đồng thời, có tú-tài Lý-thừa-Trạch, thường gọi là đội Sơn, cũng là một người vừa hào-hoa phong-nhã, vừa có khí-tiết. Trong nhà của họ Lý, ở làng Minh-hương, bao giờ cũng có tiệc tùng ca hát. Thời bấy gìơ ở vùng Điện-bàn, Duy-xuyên người ta còn truyền-tụng câu phương-ngôn:

Văn-chương phú-quí, nhất Lý nhì Trương

Nghĩa-hội thành-lập, Lý-thừa-Trạch bèn viết thơ cho cử-nhơn Nguyn-Duật để bày tỏ chí-hướng của mình:

Đại-trượng-phu vui cùng vui chung, thời lo cũng lo chung. Ngày nay không phải là ngày bọn ta vui sướng được nữa.

Từ đây, Lý-thừa-Trạch bãi việc chơi bời và tự-xuất gia-xuy để rèn đúc khí-giới, chiêu-mộ binh-sĩ rồi kéo về hiệp với cử-nhơn Nguyễn-Duật mà theo Tân-tỉnh.

Vào mùa thu năm Ất-dậu, Nguyễn-Duật nhận được lệnh về đóng quân tại nhà bà Quấc, ở ngay trên bờ sông Trầu, cách chợ Việt-an chừng non hai cây số để trấn-giữ miền sơn-cước.

Nghe tin Nghĩa-hội sắp đến, gia-đình bà Quấc và người cháu gái là Dương-thị-Út, tục gọi là cô Chín Út, phải tản-cư về bên họ ngoại ở làng Phú-cốc, huyện Quế-sơn. Nguyễn-Duật tới nơi, vừa mới xuống ngựa, thấy nhà bỏ vắng, liền gọi lý-hương đến mà phán rằng:

-Nếu trong hai ngày cô chín Út không lo liệu trở về thì các anh phải chịu trách-nhiệm.

Đúng kỳ hạn, bọn lý-hương dẫn một cô con gái xinh đẹp về đứng khóc sướt-mướt tại cửa hành-dinh. Trông thấy nét ngây-thơ của người mỹ-nữ, Nguyễn-Duật phải lòng ngay và tỏ ý muốn cưới nàng về làm vợ lẻ. Cô Dương-thị-Út cứ nằng-nặc từ-chối:

- Em còn non dại mà lại thô kệch, quê-mùa, quan lớn là bậc danh-cao tước-trọng, ở dưới trướng thiếu gì kẻ hầu người hạ, xin quan lớn thương tình mà tha-thứ cho em .

Nghe như vậy, Nguyễn-Duật liền đập bàn mà quát tháo một hồi, ra vẻ giận-dữ:

- Thôi tôi biết rồi! có nói quanh nói quất cũng chỉ vì cô chê cử-nhơn này đã già.

Rồi ông lại nói dịu giọng:

- Này, tôi bảo thật cho cô biết cử này già mà còn xấp ba tụi trẻ. Cử này còn đủ sức để...cho cô mỗi lần đến ba tiếng đồng hồ mà không hề thấy mệt-mỏi!

Hai bên cứ tiếng qua tiếng lại mãi làm cho bọn trai cày phải chạy ra phía sau tường, để lỗ tai vào kẽ trống mà nghe lóm. Ngậm miệng không được, chúng lại phá lên cười rúc-rích rồi kéo nhau mà chạy, gây náo-động lên. Tức giận, Nguyễn-Duật gọi bọn lý-hương vào trách mắng và ra lệnh:

- Các anh không bắt mấy thằng ranh con ấy mà đem vào đây thì các anh phải liệu hồn.

Một lúc sau, bọn lý-hương dẫn tới trước sân một đoàn người gồm có năm bảy tên nông-dân nét mặt xanh xao, hốc-hác. Nguyễn Duật bắt bọn lý-hương phải lấy nọc căng chúng nó ra đánh cho mỗi đứa ba chục roi mây thật đau, mới tha cho về.

Vài ngày sau ở chợ Việt-an, trái với thường lệ, người ta giết một lần đến mười bảy con trâu cổ, hàng chục con bò, con heo, tiêu dùng đến hàng trăm thúng gạo, thúng nếp. Dân-chúng tụ-tập đông-đảo, huyên-náo, ông già bà cả, con nít đứng bao-bọc ở phía bên ngoài để xem mặt cô dâu và chú rể. Thật là một cảnh-tượng tưng-bừng, lộng-lẫy chưa bao giờ trông thấy trong chốn thâm-sơn cùng cốc. Cử-nhơn Nguyễn-Duật và cô Dương-thị-Út hưởng chưa trọn tuần trăng-mật thì từ Tân-tỉnh lại có mật-lệnh đưa về phải chuẩn-bị xuất-binh. Ngày mồng một tháng tám năm 1886, tại Tân-tỉnh văn-thân tụ-tập đông-đủ để làm lễ xuất-sư. Tiếng trống chầu, tiếng tù-và, tiếng thanh-la nổi lên inh-ỏi. Tham-mưu-trưởng Nguyễn-Duật, cử-nhơn Trần-văn-Hoàn, cởi ngựa đi tiên-phong, nghĩa-binh chuyển mình để lên đường trong một bầu không khí nhộn nhịp. Tới chợ Việt-an, nghĩa-binh dừng bước lại để nghỉ-ngơi trong giây lát. Cô Dương-thị-Út ra tiễn đưa, vẻ mặt buồn rầu, khác hẳn với những ngày trăng-mật. Tiến về phía cử-nhơn Nguyễn-Duật, nàng cầm chéo áo bào của phu-quân mà nói thỏ-thẻ:

- Trước kia quan lớn lấy chữ Duật mà đặt tên cho mình, chữ ấy gồm có hai phần, chữ mâu ở trên đầu và chữ uýnh ở phía dưới. Từ khi gia-nhập Nghĩa-hi, quan lớn lại đổi tên củ, đặt tên mới là uýnh mà thôi, bỏ hẳn phần đầu chỉ giữ cái khúc thân và tứ-chi. Em rất lo ngại cho quan lớn trong cuộc hành-trình xa-xôi, nguy-hiễm nầỵ.

Cử-nhơn Nguyễn-Duật mĩm cười, lấy tay vén mấy sợi tóc trên vừng trán người mỹ-nữ, thấy có những giọt nước mắt thấm vào làn da của mình cũng ngậm-ngùi mà phân-giải:

- Thôi, đàn bà con nít chỉ hay tin những sự d-đoan nhảm-nhí!

Nói xong hai bên phải tạm-biệt. Đoàn nghĩa-quân xuống Vinh-huy, theo con đường công-hương mà vào Cẩm-khê, vì phần nửa hạt Thăng-bình, thuộc về miền duyên-hải, đã bị người Pháp chiếm-đóng. Tới đâu họ cũng được dân-chúng hoan-nghênh nhiệt-liệt. Các tín-đồ Thiên-chúa-giáo bị giam-giữ từ lâu trong những căn nhà lá lụp-xụp nằm rải-rác ở hai bên cánh đồng, cố-gắng trèo lên những bức tường bằng đất  nhìn qua lỗ thông hơi với những cặp mắt tò-mò, hằn-học. Chiều ngày mồng hai, cử-nhơn Nguyễn Duật và đoàn tùy-tùng đến chợ Bến-Ván, rạng ngày mồng ba, họ đã vượt qua sông Trà-khúc một cách yên-ổn. Lúc bấy giờ ai nấy cũng háo-hức, cũng bước thật nhanh để hiệp với đoàn nghĩa-binh từ Bình-định kéo ra mà công-hãm thành-trì. Họ không khỏi ngạc-nhiên khi nhìn về phía trước, chỉ trông thấy những cánh đồng mía bao-la nằm yên-lặng dưới ánh-sáng hiền-dịu của buổi bình-minh. Ở trên bầu trời, ở dưới đất không có dấu hiệu gì để cho biết rằng đoàn quân ứng-chiến của tỉnh Bình-định đã có mặt tại đấy, đã giữ đúng lời ước-hẹn từ trước. Họ có ngờ đâu rằng, trong thời-kỳ Cần-vương, nước nhà bị cắt ra làm hai phần y hệt như lời than-vãn của dân chúng trong hai câu lục-bát sau đây:


Ngẫm xem thế-sự mà rầu,

Ở giữa Đồng-khánh, hai đầu Hàm-Nghi.


Vì vậy, lúc bấy giờ ở trong nước có hai thứ lịch, lịch Hàm-Nghi và lịch Đồng-Khánh, ngày tháng có xê xích với nhau. Do đó, khi họ gần tới đích rồi thì trong vùng An-khê, vùng An-lão, đoàn chí-nguyện-quân của Mai-xuân-Thưởng, của Tăng-bạt-Hổ mới bắt-đầu xuất-phát. Chờ đợi mãi không thấy tin-tức, cử-nhơn Nguyễn-Duật bèn ra lệnh cho quan quân phải chuẩn-bị sẵn-sàng. Muôn người như một, hiên-ngang, dũng-cảm, lũ-lượt kéo về phía tỉnh thành. Khi họ vừa trông thấy những chiếc vọng gác nằm lẩn-khuất dưới những tàn dừa, những cành dương-liễu thì phục-binh của Nguyễn-Thân từ trong bụi rậm, trong ngõ hẽm bất-thần xuất-hiện rất đông. Cuộc giao-phong khởi-sự ngay trong giây lát. Cử-nhơn Nguyễn-Duật ra lệnh cho lính của mình đốt trái mù lên ném vào quân địch. Một làn khói đen nghịt, khó thở bốc ra, bao trùm cả đối-phương và lan dần tới những đám ruộng mía hai bên đường. Lợi-dụng tình-thế, nghĩa-quân Quảng-nam lấy giáo sào, mã-tấu mà tận-lực huyết-chiến, tiêu-diệt được một số quân-thù khá lớn. Bất thình-lình, ngọn gió nồm từ phương xa thổi đến khá mạnh làm cho làn khói đổi hướng bay trở về phía bắc. Nghĩa-quân Quảng-nam, đến phiên mình lại bị khói phủ kín không thấy đường để tác-chiến. Biết tình-thế đã thuận-lợi trở lại, Nguyễn-Thân ra chỉ-huy mặt-trận, dốc hết lực-lượng vào cuộc chiến-đấu. Khi ngọn gió thổi về mạnh hơn làm cho mây phải tan, khói phải biến thì lính Quảng-nghĩa đã hoàn-thành cuộc tàn-sát ghê-gớm trong lịch-sử. Đoàn dân-quân của tán-tướng Nguyễn-Duật, lúc ra đi mười phần, nay chỉ còn lại một phần ba. Tuy vậy họ cũng tập-hợp lại trong cánh đồng để chống cự những trận tác-chiến liên-tiếp của bên địch và để chờ viện-binh của tỉnh Bình-định. Hai bên lại đánh xáp lá cà một lần cuối cùng nữa. Tán-tướng Nguyễn-Duật, cử-nhơn Trần-văn-Hoàn phải ngồi trên mình ngựa, tay múa siêu không ngớt để yễm-trợ cho quân-đội mình. Lính Quảng-nghĩa không dám tiến đến gân, phải dùng súng trường núp trong ruộng mía mà bắn ra. Một viên đạn lướt qua, rồi một viên nữa. Hai vị tướng-lãnh của tỉnh Quảng-nam bỗng-nhiên từ trên mình ngựa lăn xuống dưới đất. Sĩ-dân chạy lại bồng xốc lên thì cử-nhơn Trần-văn-Hoàn đã tắt-thở, máu chảy lênh-láng. Tán-tướng Nguyễn-Duật còn hấp-hối, hai mắt lim-dim mất hẳn tinh-thần. Nhìn tướng-sĩ đứng bao quanh mình và biết giờ cuối cùng sắp đến, ông vẩy một tên lính, nắm chặc vai của hắn mà nói một cách hết-sức cảm-động:

- Về thưa với quan tổng-đốc Nguyn-duy-Hiệu tôi có mấy lời tạm-biệt và sẽ gặp nhau ở nơi chín suối.

Ri vị tán-tướng anh-dũng của tỉnh Quảng-nam tắt thở.Trong lúc ấy, những đợt tn-công của đối-phương vẫn tiếp-din làm cho trận tấn-công thành Quảng-nghĩa trở nên rùng-rợn từng phút một. Toán quân của Nguyn-Thân mỗi lúc mỗi đông hơn, được thắng-thế cứ liều-mạng xông vào hàng-ngũ bên địch mà chém-giết. Bắt sống được người nào thì liền tay họ cắt tai, xẻ mũi mới chịu phóng-thích. Sĩ-dân miền Ngũ-hành-sơn bị mất sự chỉ-huy, binh-lính đã gãy hết hai phần ba, phải tức-tốc vượt sông Trà-khúc để rút lui một cách rất lộn-xộn. Kẻ nào mạnh chân thì bỏ chạy thoát, người nào chậm chạp thì lại bị bắt, bị cắt tai, xẻo mũi rồi cứ la lết mà đi trên con đường thiên-lý dài tăm-tắp. Lính Quảng-nghĩa vẫn hăng máu rượt theo những kẻ chiến-bại, vẫn tàn-sát cho tới cuối cùng. Khi còn cách chợ Châu-ổ non sáu cây số, lính Quảng-nam vượt qua một con sông nhỏ và phải đốt cái cầu gỗ thì toán nghĩa-binh của Nguyễn-Thân mới dừng lại. Cuộc chiến-tranh nam bắc tới đây chấm-dứt.

Để ghi nhớ trận đánh gay-go, cam-khổ ấy, dân-chúng ở vùng Bình-sơn gọi cái cầu bị sĩ-dân Quảng-nam đốt phá là Cầu-Cháy.

Nhơn cuộc thất-bại này, tú-tài Huỳnh-Quì có viết một bài "Văn-Tế Tằm Thua" như sau:


Hỡi ôi!

Rắn vẫn thay da,

Cóc không rán bụng.

Bóng ngựa qua, dâu héo mấy nhành.

Mồ kiến ụi, khói un một đống.

Nhớ linh xưa:

Sinh vốn không xương;

Đẻ thời có giống.

Muông-vang, sắc-mướp, nói chuộng nói không.

Hồng-lão, thất-lang, mười người mười dụng.

Ăn thì lấy trong gan, trong ruột mà đền

Ỉa cho được trên cổ, trên đầu mới trúng.

Những tưởng:

Chầy ngày dày kén, ăn từ lá, trả từ cây;

Ôm rác vác tiền, bán cái tơ nhờ cái nhộng.

Nào hay:

Nong nọ mới sang;

Buồng chưa kịp cúng.

Đít đeo chuỗi hột lòng thòng;

Đầu bịt khăn điều lụng-thụng.

Lưng không tháo lóng, mình nước trong trong;

Bụng chẳng ươm tơ, da ngoài bũng bũng.

Đã không nên dáng nên hình;

Phải chịu ra hào ra vũng.

Cóc nhái xem tốt đẹp lấy càng;

Chim chuột thấy sẵn mồi nuốt lộng.

Ôi thôi!

Đuỗi nọ quạnh-hui,

Buồng kia vng trống.

Bỏ không thép né, nhành rang;

Biếng ngó đòn hào, cây chống.

Trông ra cửa, ra ngõ, bạn lái ươm xem thấy ngọt-ngào,

Chờ đến chốn đến nơi, lũ con hái thấy thêm rời-rụng.

Ba tuổi-tác kia là mấy, cũng chịu một đời;

Trăm dâu đổ biết mấy mươi, chẳng còn một mũng.

So đo chi đó, tính chắc một chục nong, hai chục nong;

Cóc mốc gì đâu, ăn hết năm đôi bộng, mười đôi bộng.

Tiếc công ăn đứng mà làm;

Nghĩ lại vận còn đang úng.

Thôi mí nầy còn mí khác, dầu rủi dầu may;

Khi được, có khi thua, xin đưa xin tống.