Mở đầu một trang sử.


Kể từ Bến-ván, Nam-trai,

Hai bên Trảng Chuổi, đường dài thậm xa.

Kể từ Ông Bộ kể ra,

Cây Trâm, Trà-lý bước qua Bầu-bầu.

Tam-kỳ, chợ Vạn đâu đâu?

Ngó lên đường cái thấy lầu  ông Tây.

Chiên-đàn, chợ Mới gần đây,

Kế-xuyên buôn bán đông tây rộn ràng.

Ước gì thiếp bén duyên chàng,

Đường xa cách mấy dặm tràng cũng theo.


Vào khoảng cuối thế-kỷ thứ mười chín, cô Nở, một người con gái đa-tình, đi khắp tỉnh Quảng-nam và hát những câu trên. Nếu chịu khó theo dõi người thục-nữ và đi xa hơn nữa trong thực-tế, miền sông Thu-bồn còn dành cho ta nhiều sự mới lạ. Lúc bấy giờ, nền kinh-tế ở Quảng-nam không chỉ thâu hẹp vào một vài thị-trấn nho nhỏ ở về miền duyên-hải hạt Tam-kỳ mà còn quy-tụ vào hai cửa bể Đà-nẳng và Hội-an. Cửa Hàn, nơi qua lại của những chiếc tàu thủy hùng-dũng, kiêu-ngạo, khởi-hành từ phương tây, đương ở trong thời-kỳ phát-triển. Thành-phố Hi-an, ở trên cửa-Đại, chổ tập-trung của những chiếc ghe mành nặng-nề, chậm-chạp, vươn mình thở hổn-hển, lim-dim hồi-tưởng lại thời-kỳ xa-xưa, khi người Anh-cát-lợi, người Nhật-bản, người Hà-lan còn lui tới buôn-bán tấp-nập. Ngoài hai hải-cảng nói trên, là chổ phồn- hoa đô-hội vào bc nhất, kinh-kỳ phố Hiến của miền trung, ta còn phải chú-ý đến Dương-yên và Vỉnh-điện. Thị-trấn sau này không mảy-may quan-trọng về thương- mại hay kỹ-thuật, nhưng lại được nổi tiếng vì ở đây có tỉnh-thành, lí-sở của quan tuần-vủ, người chịu trách-nhiệm về mặt hành-chánh. Dương-yên, thị-trấn thứ nhất ở miền sơn-cước, chỉ là một cái làng nghèo-nàn thưa-thớt, chìm-ngập từ lâu đời trong một vùng núi-non cực-kỳ hiểm-trở, quanh năm dân chúng chỉ biết ăn đọt sắn với muối, mặt trời chỉ biết mọc vào lúc đứng trưa, buổi sáng còn bị sương mù bao phủ kín y hệt như lúc ban đêm. Trong chốn hoang-vu cổ-truyền ấy, lại xuất-hiện những thành-trì qui-mô, đồn-lũy vững-chắc. Ở đây có nha sơn-phòng, lí-sở của quan chánh-sứ, chuyên coi về việc quân-sự. Nói tóm lại, tất cả sự hoạt-động ở trong tỉnh về mặt chính-trị đều tập-trung vào hai chổ xung-yếu ấy.

Một buổi sớm, vào thượng-tuần tháng bảy năm 1885, trên con đường thiên-lý dài tăm-tắp, nằm vắt ngang qua địa-phận tỉnh Quảng-nam như một tấm lụa mỏng, người ta trông thấy một vị quan văn, đầu đội nón Gò-Găng, chân đi giày hạ, ngực đeo bài ngà, mình mặc áo lương La-cả, cởi một con ngựa Phú-yên màu xám, tiến rất nhanh về hướng nam. Hai tên lính giản mặc áo dấu lủi-thủi chạy theo sau, một tên mang cái khăn gói khá to ở trên vai, có vẻ mệt nhọc hơn, một tên nữa, ôm chặt trong cánh tay một cái tráp chử-nhật cẩn xa-cừ; cả hai đều cố-gắng theo cho kịp con tuấn-mã sung-sức đương phi nước đại. Tới trạm Hương-an, ở về hạt Quế-sơn, thầy trò mới dừng bước. Tên lính hầu vội-vả chạy lại cầm dây cương, kéo con ngựa đương hăng-hái về một bên, đưa tay đập rất nhẹ vào lông gáy của nó:

-Bum! Bum! ngoan đi nào!

Ý-thức được những cái vổ-về âu-yếm ấy, con ngựa cúi đầu xuống và đứng lại ngay. Vị quan văn chuyển mình, ấn thật mạnh chân phải vào chiếc bàn đạp nhảy lẹ-làng xuống đất. Thấy ở bên lề đường có một cái quán cơm bằng tranh sạch-sẽ, cao-ráo, vị quan văn cùng hai tên lính hầu đi vào, người chủ đi về phía chiếc sập bằng gỗ mít kê chính giữa nhà, lên ngồi chễm-chệ một mình, hai tên lính-giản đứng khoanh-tay chầu hai bên tương-tự như Châu-Xương, Châu-Bình trong một bức tranh thủy-mặc.

Liền khi ấy tên chủ quán, chít một cái khăn lông bờm xờm, từ trong xó bếp chạy ra, chắp tay vái hết sức kính-cẩn:

-Bẩm cụ lớn!

Mấy tên nông-dân hàng xóm, ý chừng đi làm lụng ở ngoài đồng mới trở về, luôn tiện ghé vào quán-xá như thường-lệ để dọ-dẫm thức ăn và đứng dưới mái hiên trò chuyện rầm-rĩ với nhau. Nghe tiếng chào hỏi ở bên trong, họ đưa mắt nhìn vào thật  lẹ, rồi bấm tay nhau đi tảng lờ về một phía khác, vừa đi vừa nói rất khẽ:

- Chết bây, quan sơn-phòng!

Thật vậy, vị quan văn đương ngồi trong tửu-điếm là tiến-sĩ Trần-văn-Dư, người ở làng An-mỹ-đông, phủ Tam-kỳ, lúc bấy giờ đang giữ chức chánh-sứ tại nha sơn-phòng Dương-yên. Thân-hình mảnh-dẻ, tầm-thước, nước da trắng trẻo, hai mắt sáng-quắt như hai vì sao, cử-chỉ ngôn-ngữ khoan-thai, quan sơn-phòng có cái vẻ siêu-phàm của bậc tu-hành và cái dáng-điệu thanh-tao của một nho-sĩ.

Lúc quan sơn-phòng mới bước vào, khách hàng ở trong quán còn thưa thớt, nhưng dần dần kẻ ra người vào lại càng đông-đảo thêm.

Quan sơn-phòng-sứ phải nấn-ná ngồi lại để quan-sát tình-hình. Họ là những kẻ b-hành từ phương xa mới đi lại, mỗi người còn mang trên khuôn mặt, mái tóc, trên chéo áo, chút ít hương-vị nồng-nàn của những miền viễn-cách. Họ là những tên lính kinh vừa mới đào-ngủ sau những ngày phiến-biến. Cuộc khởi-nghĩa của Nguyễn- văn-Tường, Tôn-thất-Thuyết đã thất-bại, vua Hàm-Nghi đã xuất-bôn ra Tân-sở, họ mới lên đường chạy một hơi từ Thuận-hoá vào Quảng-nam, quên ăn quên ngủ, mỗi người chỉ cầm vỏn vẹn một cành lá để che sương đở nắng, y hệt như những con đồng, con vía trong một buổi nhập hồn. Họ còn là những thầy khóa rủi-ro vừa mới bỏ trường-thi để tỏ lòng công-phẩn. Thí-sinh trường Bình-định thì tự-động rút-lui sau khi nghe tin thất-trận, thí-sinh trường La-chữ ở Thừa- thiên rủ nhau chạy loạn trong lúc ban đêm. Tất cả đều có vẻ bơ-sờ, sửng-sốt vì những chuyện vừa mới tai nghe mắt thấy trong cơn binh-lửa.

Một lát nữa, khách thập-phương lại kéo nhau vào ngồi chật ních ở trong tửu-điếm để nghe câu chuyện thất-thủ. Nông-dân ở những vùng lân-cận, thương-nhân ở miền nguồn, phường-chài ở miền duyên-hải, ai nấy cũng hăm-hở muốn biết thời-sự. Một tên lính hộ-thành làm ra vẻ thông-thạo, ngồi tréo mảy trên cái rương xe đặt ngoài hiên cất giọng nói thật to như muốn làm cho mọi người phải chú-ý:

- Có tất cả hai vị tiến-sĩ bị chết !

Một thầy-khoá vừa mới ăn mì gà xong, miệng còn dính mỡ, đứng xỉa răng một cách khoái-chí ở bên ảng nước bắt gần chái bếp, thấy ngứa-ngáy ở trong mình, chạy xồng-xộc lại hỏi:

-Tôi đố anh biết vị nào chết vì tạc đạn?

Biết câu chuyện của mình đã có dư-âm trong quần-chúng, tên lính hộ-thành vội-vã đứng dậy trả-lời một cách lãnh-đạm:

- Không có vị tiến-sĩ nào trúng phải tạc đạn. Tiến-sĩ Nguyễn-Thích, ở huyện Hà-đông chết không rỏ vì sao trong cuộc hổn-loạn. Còn tiến-sĩ Hoàng-văn-Hoè, người ở Hà-nội, đã nổi tiếng trong khoa uyên-bác, vào ẩn-núp trong một căn nhà ở gần cầu Thăng-long, bị bom nổ mà thiệt-mạng.

Tên lính hộ-thành vừa nói dứt lời thì mọi người đu chắt lưởi:

-Tội-nghiệp!

Một ông đồ già, không rỏ từ phía nào đi lại, nhưng từ nãy đến giờ vẫn chăm-chú nghe câu chuyện thất-thủ, liền cất giọng ngâm-nga một mình. Lược thuật ra đây, theo di-cảo của Song-nguyên Huỳnh-thúc-Kháng, bài "Cảm-thuật" mà ông đã ứng-khẩu trong tiệm cơm, bên cạnh một bàn đèn và hai bát nước chè quắn đậm:


Kinh-đô thất-thủ việc khôn-lường,

Thương Chúa từ đây trải gió-sương.

Cam-lộ dời ra nhờ có Thuyết,

Nhà chung ở lại giận cho Tường.

Vua ta thế ấy, rồng nằm vực,

Giặc nọ dường kia, cá đứng mương.

Chưa rỏ cơ trời sao vậy nhỉ !

Bao giờ đem lại của đồ-vương?


Bài "Cảm-thuật" vừa chấm-dứt thì đoàn người di-cư ở trong quán xá lại huyên-náo hơn nữa. Ai nấy cũng thi đua, mỗi người chêm một câu để kéo dài cuộc hội-họp vì họ cho rằng kinh-đô thất-thủ là việc ngàn năm một thuở. Trong lúc quần-chúng đang xao-xuyến tới cực-điểm như vậy thì ở trong tửu-điếm tiến-sĩ Trần văn Dư vẫn ngồi tỉnh-ruội, có vẻ trầm-tư mặc-tưởng. Quan chánh-sứ lắng tai nghe tất-cả những mẫu chuyện rời-rạc có liên-hệ đến việc khởi-nghĩa ở kinh-đô. Cuối cùng không kiềm-chế được mối cảm-xúc, quan chánh-sứ để cho hai giọt lệ nở ra trong khoé mắt.

Tiến-sĩ Trần-văn-Dư hồi-tưởng lại những trang-sử giông-tố nhất trong đời sống của mình. Vừa mới hôm kia, nhận được bức mật-thư của Tôn-thất-Thuyết, ông liền từ-giả nha sơn-phòng trong một buổi sớm đầy sương mù, đi thẳng một mạch ra tới Vĩnh-điện. Tại đây ông đã gặp phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu, người ở làng Thanh-hà, phủ Điện-bàn, lúc ấy giữ chức thương-biện tỉnh-vụ. Hai người bàn-luận thật lâu rồi dắt nhau vào tỉnh-đường để yết-kiến quan tuần-vũ Nguyễn-đăng-Ngoạn, người ở làng Kim-giao, huyện Mộ-đức, tỉnh Quảng-ngãi.

Tiến-sĩ Trần-văn-Dư đi ngay vào vấn đề:

- Nhà vua đã chạy ra Cam-lộ, Ngài định làm thế nào?

Quan tuần-vũ Nguyễn-đăng-Ngoạn trả-lời một cách gián-tiếp:

- Nhà vua xuất-bôn thì đã có tam-cung và nhiếp-chính Thọ-xuân-Vương thay thế.

Tiến-sĩ Trần-văn-Dư có vẻ không bằng lòng vì lối phúc-đáp ấy:

-Ở đây ai cũng biết nhiếp-chính Thọ-xuân-Vương và tam-cung làm tay sai cho Pháp. Ta sẽ ăn nói làm sao với dân-chúng?

Tuần-vũ Nguyễn-đăng-Ngoạn cũng cảm thấy những khó-khăn trong việc đối-xử sau nầy, liền chất-vấn:

-Nếu không theo chính-quyền hiện-hữu, ta còn biết làm gì hơn?

Nghe câu hỏi ấy, Tiến-sĩ Trần-văn-Dư đứng dậy nói một cách dõng-dạc:

-Tại sao ta không nắm lấy cơ-hội, chiếm-đoạt tỉnh-thành và chống-cự với người Pháp ?

Tuần-vũ Nguyễn-đăng-Ngoạn suy-nghĩ hồi lâu, rồi lắc đầu:

-Tôi không phải là người thổ-trước, trách-nhiệm ấy không phải về phần tôi đãm-nhận.

Phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu cũng lấy đại-nghĩa để khích-lệ lòng trung-quân ái-quốc của vị tỉnh-trưởng, nhưng cuối cùng tuần-vủ Nguyễn-đăng-Ngoạn vẫn khư khư từ-chối, không dám đài-đương những việc to lớn.

Cuộc thương-thuyết đã hoàn-toàn thất-bại. Phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu bèn rủ quan sơn-phòng Trần-văn-Dư tới dự một phiên họp bí-mật tại nhà cử-nhơn Lê-tấn-Toán, người làng Hà-lộc, phủ Điện-bàn. Lần nầy giữa chiến-sĩ với nhau, sự đồng-ý về chánh-kiến có thể thâu-thập dễ-dàng hơn. Ai nấy cũng muốn lấy việc "cần-vương" và "bình-tây sát-tả" làm phương-châm cho cuộc đấu-tranh của mình. Tuy vậy một khi nhóm văn-thân bàn tới việc đề-cử lảnh-tụ, người ta mới bắt đầu suy-nụy, thối-thác lẫn nhau.

Cử nhân Lê- tấn-Toán, người được sĩ-dân tán-thành và tín-nhiệm hơn hết, lại viện lấy tuổi già, sức yếu mà từ-khước.

-Tôi xin đứng ra ngoài và đem hết tài-sức ra làm việc cho chính-nghĩa.

Ngự-sử Huỳnh-bá-Chánh, người ở làng Khái-đông, huyện Hòa-vang, được công-chúng đề-bạt kế tiếp theo đó cũng không chịu nhận việc.

- Nếu xét về tuổi tác, ông cử Hà lộc và tôi có trội hơn quan sơn-phòng Trn-văn-Dư non một giáp. Nhưng lấy cái tài-đức nhất là cái bồ chử ở trong ruột thì quan sơn-phòng lại bỏ xa chúng tôi đến hàng mấy chục dặm. Chi bằng ta tôn ngài lên làm minh-chủ rồi ta núp đàng sau mà ủng-hộ, việc lớn tất-nhiên sẽ thành.

Nghe lời Ngự-sử Huỳnh-Bá-Chánh đề nghị, hầu hết văn-thân đều hưởng-ứng và mời tiến-sĩ Trần-văn-Dư lên ngồi trên bộ phản giữa. Miễn-cưỡng quan sơn-phòng sứ phải chấp-nhận và đứng lên tuyên-thệ trước mặt bá-quan văn-võ.

Cuộc hội-nghị bế-mạc. Tiến-sĩ Trần văn Dư từ-giã các đồng-chí, một người một bóng, ông cho con ngựa Bum chạy như bay trên những quãng đường quen thuộc, mỗi lúc mỗi xa-xôi, vắng-vẻ, hiu-hắt như gió biển trăng ngàn.

Ngày mười chín tháng bảy năm 1885, tiến-sĩ Trần-văn-Dư về tới nha sơn-phòng Dương-yên. Quan tế-tửu Nguyễn-đình-Tựu, tiến-sĩ xuất-thân, người ở làng Phú-thị, phủ Tam-kỳ, đã mang sắc-chỉ của triều-đình vào chực sẵn tại đây. Theo lệnh mới, Tiến-sĩ Nguyễn-đình-Tựu được sung-chức chánh-sứ tại nha sơn-phòng Dương-yên. Tiến-sĩ Trần-văn-Dư phải hoán-bổ bố-chánh tỉnh Bình-thuận. Tin này không làm cho quan sơn-phòng Trần-văn-Dư ngạc-nhiên hay bực-bội, vì trong mấy ngày gần đây, ông ráo-riết chuẩn-bị khởi-nghĩa để chống lại người Pháp. Tin nầy cũng không làm cho sĩ-binh lưu-ý, vì ở tại Dương-yên, từ đề-đốc, lãnh-binh cho tới người lính thường, ai nấy cũng đều biết nhà vua đã tạm lìa kinh-thành, tất cả sắc-chỉ đều do nhiếp-chánh Thọ-xuân-Vương và Nguyễn-văn-Tường làm ra. Vì vậy lúc bàn-giao công-vụ, tiến-sĩ Trần-văn-Dư vẫn đem ấn-kiếm ra nộp lại và chỉ nói chua nói mát võn-vẹn có một câu trước mặt công chúng:

- Nhà vua đã xuất-bôn rồi. Ông tề-phụng mệnh ai mà vào nhận chức nầy ?