Lương-giáo phân-tranh


Tại làng Thnh-mỹ, phủ Thăng-bình, ấm-sanh Nguyn Thành tức Tiểu-La đương ngồi tiếp chuyện mấy vị khách trong ngôi nhà từ-đường: bên phải có tiến-sĩ Trần-văn-Dư, hoàng-giáp Phạm-như-Xương, người làng Ngân-câu, phủ Điện-bàn; cử-nhơn Phan bá Phiến, tức Án-Hổ, người làng Bảo-an; bên trái có phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu và tiến-sĩ Phạm Tuấn, một ngôi sao chói lọi nhất trong đám ngũ-phụng tề-phi. Họ đương thảo-luận những công-tác của văn-thân hạt Thăng-bình mà họ vừa mới quan-sát sáng nay. Tiến-sĩ Phạm-Tuấn nói trước:

- Tôi xét kỹ lưỡng những lò đúc ở trên núi Chóp-chài và núi Cao-ngạn. Nguyên-liệu chở lên cho tới đỉnh núi có phần khó khăn, nhưng than gỗ ở đây lại tốt và dồi-dào. Tôi thiết-tưởng trong một thời-gian ngắn, chúng ta có thể sản-xuất đủ số đạn-dược cần thiết cho dân chúng và không phải lệ thuộc vào các thị-trấn nữa.

Tiếp theo lời của ông tiến-sĩ Xuân-đài, cử-nhơn Phan-bá-Phiến cất giọng cho biết  nhận xét của mình:

-Tôi cũng đã quan-sát tỉ-mỉ những căn nhà đất dùng làm trại giam cho tín-đồ Công-giáo, nằm rải-rác từ truông Đồng-linh cho tới chợ Vinh-huy. Tôi đếm tất cả là hai chục,  cột và nền có hơi thấp, những người bị an-trí có thể thiếu ánh nắng và không-khí nhưng tường vách và cửa ngỏ lại vững-vàng, chắc- chắn. Đó cũng là một ưu-điểm nhưng thiết-tưởng chúng ta nên tập-trung những căn nhà ấy lại một chổ duy-nhất đ tiện việc kiểm-soát.

Ấm-sanh Nguyễn-Thành đứng dậy trả lời:

-Việc canh-phòng chỉ cần thiết ở về miền ngoài mà thôi. Ở đây chúng ta đã sẵn có những con mắt tinh-vi của đồng-bào địa-phương. Mỗi hành-động, lời nói, cử-chỉ của tội-nhân đều được báo-cáo lên cấp trên. Vì vậy không thể có một con muỗi nào lọt qua tai mắt đồng-bào.

Rồi ông nói thêm:

- Lưới người đâu khác lưới trời. Thật là " thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu"

Câu chuyện về việc kiến-thiết ở Thăng-bình mới chấm dứt thì người nhà đã bưng lên một mâm gỏi cá với chồng bánh tráng mè nướng phồng lên như mặt nước có nổi bong bóng sau trận mưa rào. Đầy tớ sắp đặt xong thì Ấm-sanh Nguyễn-Thành tuyên-bố:

- Vừa sáng nay tôi cho bầy trẻ lên bến đò Tân-an mua được một con cá rói khá to, thân hình dài tới một thước tây, bề ngang không dưới bốn tấc. Tôi đã rước một người nấu ăn thiện-nghệ, họ sẽ trình-bày ra đây hai món rất phổ-biến tại điạ-phương: thứ nhất là món gỏi bóp với rau đọt thơm, thứ nữa là món cháo cổ-điển. Xin qúi ngài thật tình cm đũa cho biết cái hương-vị miền sơn-cước.

Ông vừa mời-mọc, vừa luôn tay cầm chai rượu mai-quế-lộ rót vào mấy chén tiểu màu nguyệt-bạch sắp chung quanh cái đĩa bài thơ. Ông nói tiếp:

- Nhơn cơ-hội nầy, chúng ta cũng nên nâng chén rượu để chúc mừng cụ hoàng-giáp Ngân-câu trở về tỉnh nhà và từ đây có thể hợp-tác với chúng ta đắc-lực hơn.

Ai cũng tán-thành ý-kiên của Tiểu-La tiên-sinh, cùng nâng chén rượu ngang mày rồi  uống với nhau một cách hoan-hỉ. Trong khi thù-tạc, tiến-sĩ Trần-văn-Dư không quên nhắc nhở ông hoàng-giáp Ngân-câu về phận-sự của người viễn-khách:

-Ông đi xa mới về, l tất-nhiên phải cho chúng tôi biết những việc mới xảy ra tại li-sở và những điều tai nghe mắt thấy trên đường.

Hoàng-giáp Phạm-như-Xương bèn thuật lại cuộc khởi nghĩa nhân-dân tại Phú-yên:  ông bị tạm giam như thế nào, án-sát Huỳnh-Côn, lãnh-binh Nguyễn văn Hanh bỏ trốn ra sao, diễn-tiến sự việc tá-lý Lương-xuân-Huyên được vào lãnh chức Bố-chánh và thị-dộc Cao Đệ lãnh chức án-sát để thay thế. Ông cũng kể lại việc Tuy-Lý Vương bị phát-vãng tại sông Cầu và nhờ ông tìm mọi cách nâng đở mới có thể trở về kinh thành được.

Sau câu chuyện thời-sự, Tiến-sĩ Trần-văn-Dư lại đề-cập tới vấn-đề văn-chương. Người nào sáng-tác được bài nào phải đem ra ngâm vịnh để cho cử-toạ thưởng-thức chung. Bị mời mọc trước nhất, Ấm-sanh Nguyền-Thành cứ khăng-khăng từ-chối, viện cớ rằng từ nhỏ chí lớn ông chỉ ham đọc kinh truyện, chớ không sở-trường về thi ca, ông chỉ nhớ mang-máng một mùa xuân nào đó, ông lên chơi Ngũ-hành-sơn và chỉ sáng-tác hai câu thơ chữ nho. Ông lấy giọng ngâm lên một cách miền-cưỡng:


Đăng cao dục tá từ-bi kiếm,

Trảm trận niên lai kỷ não sầu.


Nghe xong hoàng-giáp Phạm-như-Xương tiếp lời:

- Tiểu-La tiên-sinh có một mối âu-sầu hết sức đặc-biệt. Thảo nào ông lại sở-trường về quân-sự và chính-trị. Tôi cũng có nỗi buồn riêng do hoàn-cảnh hiện tại tạo nên, tôi xin đọc ra cho quí ngài duyệt-lãm. Ông lấy chiếc quạt thanh sẵn cầm trên tay, gõ nhịp vào bộ phản ngựa mà ngâm với giọng uyển-chuyển. Đây là bài "Cảm-sự" mới nghĩ ra sau khi về tới Quảng-nam:


Võng-lọng nghêng-ngang giữa cỏi trần,

Biết ai là Chúa, biết ai thần?

Ngu-thiều tâu hết chưa nghe phụng,

Lõ-sư tu rồi, chẳng thấy lân.

Mỏi mắt Hy-Di trời Ngũ-qúi,

Nhọc lòng Gia-Cát đất tam-phân.

Thôi thôi, đã thế thì hay thế,

Nhờ lượng cao dày cứu lấy dân. (1)


Tất cả quan-khách đều cm-động khen hay. Phó-bảng Nguyền-duy-Hiệu nói một cách khẩn-khoản:

-Cụ hoàng-giáp Ngân-câu thể theo lời yêu-cầu của quan sơn-phòng-sứ mà đọc một bài thơ rất chân-thành. Nay tới lượt tôi đề-nghị, lẻ nào ngài lại có thể từ-chối được.

Biết rỏ ý của phó-bảng Nguyễn-Duy-Hiệu, lần nầy hoàng-giáp Phạm-như-Xương chỉ nói một vài câu phi-lộ, rồi ngâm nốt bài "Cu-li hề" mà ông đã viết ra ở Phú-yên để phản-ảnh tình-trạng nước nhà.

Ông đọc với giọng vừa mỉa mai vừa hài-hước:

Cu-li hề!!

Cu-li quân hề!

Cu-li thần!

Cu-li quan hề!

Cu-li dân!

Cu-li khoa hề!

Cu-li văn!

Cu-li tú-tài hề!

Cu-li cử-nhân!


Hoàng-giáp Phạm-như-Xương vừa dứt lời, mọi người vổ tay khen-ngợi. Tiến-sĩ Phạm- Tuấn nói:

- Không những cụ Ngân-câu có biệt-tài về văn-chương mà lại còn có một giọng thần-tình, vừa nghiêm-trang, vừa nhí-nhỏm. Thật là danh bất hư-truyền vậy.

Lúc thấy bọn đầy-tớ đã xuống dưới bếp hết, Ấm-sanh Nguyễn-Thành bèn xoay qua điạ-hạt chính-trị. Ông nói:

- Hiện nay người Pháp đã chiếm-đoạt lại tỉnh-thành Quảng-nam. Chúng ta phải có chính-sách thích-ứng đối-phó với họ.

Hoàng-giáp Phạm-như-Xương khuyên cử-tọa nên tìm cách thương-lượng với các cha sở để lôi cuốn tín-đồ Công-giáo về phe mình, theo ông con-chiên không phải là xấu hết, phương-chi việc chia-rẽ nhân-tâm là việc phải tránh cho kỳ được.

Cử-nhơn Phan-bá-Phiến không tán-thành lập-trường ấy, trả-lời một cách hằn-học:

- Ai lại không biết bọn Công-giáo bán đứng tổ-quốc cho quân xâm-lăng Pháp. Nếu ta trừ-khử được bọn nội-công đó thì lũ Tây-nô tự nhiên sẽ yếu thế như cua mất càng, ta lo gì mà không thắng-lợi.

Phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu góp ý:

- Tôi cũng không chủ-trương nuôi ong tay áo. Nhưng bây giờ các vị thừa-sai đương trông cậy vào sự hiện-diện của người Pháp ở Vĩnh-điện và Đà-nẳng. Họ cũng chuẩn-bị chiến-tranh một cách ráo-riết. Ngày đêm họ lo luyện-tập binh-sĩ, chế-tạo khí-giới và rào làng chiến-đấu. Chúng ta tấn-công vào các họ đạo thì chắc-chắn họ sẽ đánh lại và sẽ nắm phần thắng-lợi. Ta phải xử-trí như thế nào ?

Mọi người im-lặng ngó mặt nhau để tìm câu trả-lời. Cuối cùng Ấm-sanh Nguyễn-Thành nói:

- Tôi có một ý-kiến muốn trình-bày ra đây. Câu chuyện hơi dài-dòng nhưng lại cần-thiết lắm. Tôi không biết qúi ngài có vui lòng ngồi lại một thời-gian để nghe tôi bày tỏ hay không ?

Tiến-sĩ Trần-văn-Dư thay mặt cho công-chúng phúc-đáp:

- Ông cứ nói. Dầu chúng tôi có phải thức suốt đêm nay để lãnh-hội tôn-ý, chúng tôi cũng cam-tâm.

Ấm-sanh Nguyễn-Thành trình-bày như sau:

-Ở về miền sơn-cước thường hay có tục vây-hội. Mỗi khi trong thôn có một con hổ tham mồi v quấy-nhiễu dân-chúng và cứ nằm lầm-lì trong khu rừng cấm. Ai nấy cũng phải ra tay đốn cây phát gốc làm một hàng rào tạm bợ để giữ con ác-thú. Tin-tức loan xa, khách thập phương kéo về xem đông đúc . Trên các nẻo đường, đâu đâu cũng thấy võng ngựa linh-đình, áo-quần sặc-sỡ, làm cho bầu không khi yên-lặng nơi miền sơn-cước bỗng chốc trở nên rộn-ràng như ngày Tết. Sớm cũng như chiều, dân-chúng lại chặt thêm cây cối ở bên trong chiến-lũy để khép vòng vây cho nhỏ dần lại. Một khi phạm-vi thâu hẹp, con mãnh-thú đã hiện ra trong bụi rậm, người ta mới đua nhau nổi mõ hồi một, gióng trống ngũ-liên. Bây giờ ai nấy cũng xúc-động: ngày đại-hội đã tới. Bên ngoài, khán giả mỗi phút mỗi đông lên ầm-ỉ, huyên-náo. Bên trong, vị chúa rừng chốc-chốc lại gầm thét dữ-dội, bức-bách đến tận cùng bởi những đêm thao-thức, những cơn đói-khát kéo dài. Đá rồng được tung vào trong bụi để chọc hổ nhảy ra. Hăng máu nó liền đứng chồm dậy, đánh một vọt tới sát bờ thành, vồ lấy những tảng đá mà nhai cho hả dạ, y hệt như khi nó xé con mồi ở chốn thâm-sơn cùng-cốc. Người ta không để cho nó yên thân. Nhanh nhẹn, một tên vỏ-sĩ đã từ trên tháp canh liệng xuống cái thòng-lọng, con hổ với được sợi dây dừa, toan nhảy về phía địch-thủ, nhưng từ bên tả, bên hữu nhiều võ-sĩ khác cũng kịp ném vào nó hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy cái vòng liên-tiếp. Nó tránh-trớ được tất-cả. Chỉ trừ một vòng làm nó phải bối-rối. Sợi dây đã lọt qua đầu, từ từ rơi xuống cổ. Bây giờ nó vũng-vẫy, nhảy tới nhảy lui, vật qua vật lại, làm rung-chuyển cả một khu rừng. Càng tung-hoành phá-phách chừng nào thì vòng dây, dưới sức lôi kéo của những cánh tay gân-guốc lại càng siết chặt thêm. Giờ tận-số của nó đã sắp đến. Từ bên ngoài, nhiều võ-sĩ khác đã vọt qua bức chiến-lũy, dùng những mũi giáo sáng-quắc để tặng cho nó những đòn tối-hậu. Cuối cùng bị đâm nhiều vết ở hông, ở cổ, mệt-mỏi đuối sức, con hổ ngã lăn ra, giãy-dụa năm ba cái rồi tắt thở.

Ấm-sanh Nguyễn-Thành vừa kể xong, người nhà mang lên một đĩa vừng nhợ, một đĩa hạt gắm rang, một việm đường và một tô ươi-bay. Chủ-nhân đứng dậy mời quan-khách:

- Đây cũng là thổ-sản miền sơn-cước. Xin quí ngài dùng mỗi thứ một ít cho biết mùi vị.

Phó-bảng Nguyn-duy-Hiệu lấy dao bổ quả giáng-hương màu vàng và thong-thả nói:

- Nhưng chúng ta cũng không nên quên mục-đích câu chuyện vừa mới tường-thuật.

Cử-nhơn Phan-bá-Phiến góp ý:

- Tiểu-La tiên-sinh đã dạy chúng ta một bài học xác-đáng. Ngay bây giờ chúng ta phải bao-vây các làng công-giáo và buộc họ phải ra đầu-hàng y hệt như con mãnh-thú trong chốn sơn-lâm.

Thấy mọi người tán-dương sáng-kiến của mình, Ấm-sanh Nguyễn-Thành tỏ vẻ hài-lòng và cho thêm vài nhận-xét:

- Tuy vậy giữa người và thú-vật vẫn có chổ khác nhau. Con mãnh-hổ phải đơn-thân độc-mã trong vòng chiến-đấu, còn giáo-dân có thể nhận được sự tiếp-viện của người Pháp từ Vũng-Thùng đưa lên hay từ Vĩnh-điện kéo vào. Nếu không chuẩn-bị cẩn-thận, chúng ta còn phải gặp nhiều khó-khăn hơn nữa.

Tiến-sĩ Trần-văn-Dư ngồi nghe bàn-luận một hồi rồi góp ý

- Quí ngài nên chọn một ngày duy-nhất để mở cuộc tấn-công. Chúng ta sẽ đánh tất cả các họ đạo một lượt và phải làm gấp rút để tránh sự can-thiệp ở bên ngoài.

Cử-tọa đều tán-thành chủ-trương ấy. Tiến-sĩ Trần-văn-Dư lên đường về Dương-yên, phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu, cử-nhơn Phan-bá-Phiến cấp-tốc trở về miền bắc để kịp thời huy-động quần-chúng.

Ngày mồng một tháng chín năm 1885, phó-bảng  Nguyễn-duy-Hiệu vượt sông Thu-bồn kéo binh tới đóng tại ngôi chùa làng La-tháp, thuộc phủ Duy-xuyên. Các vị tướng-lãnh cũng đã t-tựu đông đủ. Ngoài sân chùa, trên mấy chiếc bàn gỗ đâu nhau, có bày hương đèn, vàng bạc, một con trâu, một con heo và một con dê đã làm thịt. Cách dãy bàn chừng ba thước tây có một cái trụ trên chóp treo một lá cờ vàng với bốn chữ "Tiết-Chế Khâm-Sai" thêu bằng gấm. Tiếng kèn, tiếng trống, tiếng bu lu nổi lên inh ỏi, phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu và các tướng-lãnh đương làm lễ tế cờ giữa muôn ngàn binh-sĩ. Một khi điệu nhạc bát-âm đã im-lặng, người ta mới phân-công đi bao vây các làng công-giáo.

Tại họ đạo Phú-cường thuộc huyện Quế-sơn và họ đạo Ngọc-kinh thuộc huyện Đại-lộc, giáo-dân cm cự được một tuần lễ, rồi mới phản-công. Văn-thân chống-chọi không nỗi phải bỏ trận-mạc mà kéo về Trà-kiệu.

Tại họ đạo Phước-thượng, thuộc huyện Hòa-vang, cha sở May-Da, đã tổ-chức cuộc kháng-cự một cách tỉ-mỉ. Văn-thân tấn-công nhiều lần mà không thể nào vượt qua bức chiến-lũy. Bực mình họ phải lấy rơm bổi chất dày bốn phía và chuẩn bị phóng hỏa. Thấy tình-thế có vẻ nguy-cấp, giáo-dân kéo ra, dùng súng tấn-công. Trong khi đó mấy chiếc pháo thuyền Pháp đậu ngoài Vũng-thùng lại bắn đại-bác từng hồi để yểm-hộ. Bị uy-hiếp vì hoả-lực của đối-phương, văn-thân phải bỏ chiến-trường chạy dài và phải chịu tổn-thất nặng nề. Lúc bấy giờ là ngày mười một tháng chín.

Ở Trà-kiệu, cuộc chiến đã gay-go ngay trong những phút ban đầu. Dân-quân vừa mới hạ trại, chưa kịp thổi cơm chiều, thì giáo-dân đã tháo đập Vĩnh-trinh. Nước suối chảy về như xiết, tràn ngập cả xóm làng, làm cho một số binh-sĩ phải bị thiệt mạng. Nhưng rạng ngày mai, văn-thân đã tập-trung lực-lượng đánh chiếm được hòn núi Chiêm-sơn ở về phía tây, sau đó tấn-công và chiếm nốt vào hòn Non Trược, tức là hòn Bửu-châu, ở về phía đông. Như vậy hai phòng tuyến bảo-vệ cho trung-tâm làng đạo ở dưới chân núi Trà-kiệu đã bị chiếm-đoạt. Thất-trận, giáo-dân phải rút lui về giữ ngôi nhà chung. Họ ra sức cầm-cự được non hai tuần lễ thì nước uống và lương-thực ở bên trong chiến-lũy đã cạn hết. Thừa sai Bờ-Ruy De phải hạ lệnh cho con chiên mở cuộc phản-công và chiếm-cứ lại những vị-trí đã mất. Sau nhiều trận khó-khăn, họ đã tái chiếm núi Chiêm-sơn và đánh bại được những cuộc tập-kích của văn-thân.

Bây giờ trong hàng-ngũ văn-thân lại có sự mâu-thuẫn. Tú-tài Trần-Thừa, người ở làng Gia-cốc, huyện Đại-lộc, vừa mới kéo binh qua chưa sôi một ấm nước chè, lại tức-tốc kéo trở về, làm cho nhiều tướng-lãnh hoang-mang và mất tinh-thần chiến-đấu. Biết tình-thế càng ngày càng thuận-lợi cho mình, Thừa-sai Bờ-ruy-De lại đốc-thúc giáo-dân đánh chiếm hòn Non-trược. Cuộc tranh-chấp vị-trí xung-yếu này xảy ra hết sức ác-liệt. Về bên văn-thân, lãnh-binh Trần-Tý, người làng Bình-nhai và Tán-tướng Huỳnh-Đặng, người làng Bình-yên bị tử-thương. Phó-bảng Phạm- thanh-Lương, người làng Mã-châu lên thay thế đã cho một đoàn tượng-binh xuất-trận để yểm-hộ cho dân chúng. Giáo-dân phải dùng hoả-công để làm cho mấy thớt voi khiếp-sợ rồi đánh xáp lá cà để mở đường. Hai bên còn đương giằng co, chưa phân thắng phụ thì bất ngờ quân Pháp đã vượt qua bến đò Chợ-củi và bắn phá lung-tung. Biết thế không chống cự nổi, văn-thân phải rút lui và cuộc chiến-tranh lương giáo từ đây phải chấm-dứt.

Tú-tài Huỳnh Qùi, người làng Giảng-hòa, huyện Đại-lộc, có làm một bài "Vè sát tả" như sau để làm chứng:

Vè vẻ vè ve,

Cái vè đánh đạo.

Tỉnh-thành lạo-xạo,

Tả đạo đốt nhà.

Trà-kiệu kéo qua,

Quân ông kéo trước,

Các tướng bắt-chước,

Xổ trống dựng cờ.

Danh-hiệu lờ-mờ,

Mà truyền quân-sĩ:

Nay ta chuẩn-bị,

Chiến-đấu lâu dài.

Súng có hỏa-mai,

Thần-công, đại-bác.

Lại thêm giáo mác,

Thuốc nổ chứa đầy.

Hỏa-hổ dầu tây,

Củi chà, rơm bổi.

Còn như làm xổi,

Độc nhứt mưu-mô,

Hái trái mù-u,

Rải trên đường cái.

Rồi ta trá bại,

Ta cứ chạy ngay,

Lũ nó chưn giày,

Đuổi cho té sấp.

Lấy súng ta đập,

Nó phải chết ngay.

Kế nọ rất hay,

Tây nô phải khiếp.

Nói rồi vừa tiếp,

Quân-báo chạy về,

Súng ống bốn bề,

Tây qua chợ Củi.

Khi đó lụi-bụi,

Chưa kịp tấn-công.

Tiếp nghe đùng đùng,

Súng nổ Hòn-Trược.

Ta thay chiến-lược,

Ta chạy cho mau.

Tướng nhỏ chạy sau,

Tướng to chạy trước.

Tưởng là đánh được,

Bắt Chúa Du-Di.

Nhà phước đá đi,

Nhà chung quét sạch.

Không hay lập-nhập,

Non một tháng trời.

Đạo ví chạy cời,

Thất-kinh trốn mất.

Khá chi lấc-xấc,

Tướng nghé tướng trâu,

Phú-thuận tướng râu,

Phước-yên tướng lé.

Nói càng thậm tệ,

Xấu cũng xấu chung,

An-phước tướng khùng,

Chết mà phỏng lửa.

Còn hai tướng nữa,

Bàn-lãnh Phú-bông,

Tướng bị dập tròng,

Tướng kêu lổ óc.

Ngồi voi phách đốc,

Tướng Lương mã Châu.

Có gã tướng điều,

Trời sinh một mắt.

Nhứt kỳ nhứt khắc,

Tấn thủ Bình-sơn.

Thật là tướng hơn,

Làm nên ông Tán.

Ông về quê-quán,

Kéo miêt quân qua.

Kéo thẳng về nhà,

Thật là đi lọng.

Mấy ông trọng-vọng,

Mà chẳng thấy chi!

Những tướng xù xì,

Mà làm đâu xiết.

Trời sao ở nghiệt.

Bẻ lá không hằng.

Mấy ông có vằn,

Chết không kịp cựa.

Những người đồng-sự,

Chết đã cam đời.

Lo kẻ theo chơi,

Ngủ quên mà chết.

Kể làm sao hết,

Còn đoạn Đông-yên.

Tướng Xảo lộng-quyền,

Kinh-binh phóng hỏa.

Có thằng xã Trá,

Ở tại Ô-gia,

Đánh vịt, đánh gà.

Đánh chi là đạo?

Khen cho làm láo,

Cờ xổ trống rung.

Cái mặt bù hung

Cũng ra làm tướng.

Còn nơi Phú-thượng,

Để cỏi thế nào,

Tưởng là tài cao,

Hay đâu trí thấp.

Mắc mưu đạo sập,

Tướng chạy lạc quân.

Bình-yên bỏ quần,

Đa-hòa bỏ võng.

khen cho các ổng,

Lòng hỡi bền lòng,

Tuy có xấu sòng,

Cũng không dở bạc.

Khá chi chạc-rạc,

Sở đạo Ngọc-kinh,

Đánh chẳng nên hình,

Lại thêm mắc-cỡ.

Không hay không dở,

Là sở Phú-cường.

Chết khỏi văng xương,

Ấy là kha khá.

Đặt làm quấy quá,

Buồn để nói chơi.

Nghe bấy nhiêu lời,

Như tư như dĩ.



(1) Bài nầy đã sa lại theo " Chương dân thi-thoại"