Họp mặt ngày chạp mả.


Bây giờ là cuối mùa đông. Tại ngôi nhà rường tám cột của ông Phó Thục ở làng An-sơn, huyện Quế-sơn ngươì ta va làm lễ chạp mả xong. Trời bên ngoài hơi rét, một vài luồn gió bấc từ miền núi thổi về làm cho mọi người run-rẩy, khó chịu. Ở bên trong mấy ngọn nến được thắp sáng soi chiếu mấy chiếc hương-án, mấy chiếc cổ-bồng chứa đầy những nãi chuối mật-mốc chín đỏ au bên cạnh những chiếc độc-bình xưa cm đầy những cành bông hòe, bông tường-vi và bông thược-dược. Phía bên ngoài bàn thờ tổ-tiên, năm bảy vị tân-khách đương ngồi xấp-bằng trên chiếc phản ngựa gỗ, chung quanh một cái mâm đồng to lớn. Chủ-nhân không có mặt vì còn mãi lo tiếp khách ở các ngôi nhà khác trong khu vườn um-tùm, rộng-rãi. Hai vị lãnh-tụ Nghĩa-hội là phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu và cử-nhơn Phan-bá-Phiến ngồi đối-diện với nhau. Nhân-vật thứ ba là Ấm-sanh Nguyễn-Thành vắng mt vì còn bận xây tổ uyên-ương vi người con gái của tú-tài Cao-hữu-Chi trên b sông Trầu, thuộc địa-phận làng Sơn-tây, cách tỉnh-lỵ mới chng non hai cây số. Ngồi bên trong hai vị lãnh-tụ Nghĩa-hội là cử-nhơn Nguyễn-lý-Thảng, người làng Phú-nhuận, phủ Duy-xuyên, lúc bây giờ làm kiểm-lý miền hạ-du, thương-biện Phạm-trọng-Thảng, người phụ-trách  sở nhan-điền Phước-sơn, thi-sĩ Huỳnh-Quì bị bắt vào mùa đông năm bính-tuất và bị giam lỏng bên cạnh ban tham-mưu; cuối cùng là cô Dương-thị-Út, người đàn bà góa duyên-dáng va mi Việt-an lên. Mọi người đều vui-vẻ, tươi-cười như có một việc gì may-mn sp xảy đến. Ở gia chiếc mâm thau đầy ngập thc ăn như thịt gà, cá sông, cá đồng, canh khoai-nần, canh khoai tréo mảy. Những chén cơm khá to sp thành vòng tròn, chen ln với nhng diã xôi-vò, xôi đỏ, xôi trắng, nhng dĩa bánh nậm ngọt, nậm lạt, bánh in, bánh xà lam, bánh khổ-khảo, bánh chỉnh, bánh bảy lửa rất thông-dụng ở miền sơn-cước. Những dĩa bánh-tét, gói vi nếp hương-bầu xanh mướt và nhuyển-bân. Cử-nhơn Phan-bá-Phiến ngồi cầm khách, dở chiếc bánh tráng nướng úp trên nhng chồng dĩa cao đến mấy tầng, vừa bẻ ra từng miếng nhỏ, vừa mi mọc. Mỗi khi thức ăn trong một chồng dĩa đã hết, người ta dẹp hết sang một bên, tiếp-tục tấn-công vào chồng thứ hai, gp món gì phải dùng món nấy, không lựa chọn được. Chốc chốc cử-nhơn Phan-bá-Phiến lại cầm bình rót thêm rưu để tiếp cho các quan-khách. Hơi men bốc lên, làm cho ai nấy cũng say ngà-ngà, mt bt-đầu biến-sắc, đỏ gay, rồi đỏ tía. Bấy giờ hăng lên, người ta mi bàn đến chuyện thời-s, nào là chuyện nhân-dân tựộng mở nhng trận giặc mèo, gic nôi, gic gióng làm cho địch phải bị tổn-thương, nào là chuyện heo sấm, voi sấm xuất hiện trong ban đêm nhan-điền Phước-sơn, phá-hoại hết mùa-màng. Có một vị quan-khách chất-vấn, hường-lô Nguyễn-duy-Hiệu phải ngừng chén rượu để giải-thích. Lính du-kích thường hay bt mèo hoang lấy giẻ rách buộc vào sau đuôi, chich lửa thả cho chúng chạy vào trong đồn-lũy của đối-phương. Ở miền bể, họ lại đào lỗ ở dưới cát để ẩn-núp, rồi lấy một chiếc nôi rách đậy lên trên, nằm chi như vậy nhiều ngày, nhịn đói nhịn khát cho đến khi nào tên lính Pháp đóng gần đấy, vô-tình bén mảng đến, họ đứng dậy, dùng mã-tấu để chém và cắt lấy thủ-cấp đem về nạp quan sở-tại mà lãnh thưng. Còn voi sấm, heo sấm là những th ma hi, nhng con vật vô hình, mỗi ban đêm lại xuất-hiện, kêu rống m-ỉ, giậm nát lúa thóc ở ngoài đồng; khi lính Đoàn-kiết kéo ra xem, thì lại không thấy tăm dạng ở đâu hết. Câu chuyện giặc-giã va chấm-dứt, quan-khách bắt đầu nói bông đùa một vài câu. Chủ nhà, sau khi sắp đt bánh trái vào thúng mũng cho bọn đầy-tớ đi cẩn, đi biếu xong, bước lên đứng chống nạnh bên cạnh bàn tiệc, chỉ vào hai câu liễn-đối treo ở phía trước bàn th mà nói:

- Hai bc liễn giấy nầy mới mua về, còn nguyên-vẹn, xin quí ngài vui lòng giúp cho năm ba ch cho hai bức liễn được mỹ-mãn hơn.

Hường-lô Nguyễn-duy-Hiệu đề-nghị nên làm bằng ch nôm, cử tọa đều tán-thành. Trên hai bc liễn-đối có vẽ những hình người vi nét bút tao-nhã; bên trái là bốn người đàn bà, người th nhất mặc áo trng, người th nhì mc áo đen, người th ba cầm một chiếc lồng đèn, người th tư đang thổi ống sáo; ở bên mt là bốn người đàn ông, người th nhất đứng bên cạnh một lạch nước, người th nhì bên cạnh một chóp núi, người th ba cầm một ngọn đuốc sáng, người th tư đương nhìn ánh bình-minh chói-lọi ở nơi chân tri.

Thương-biện Phạm-trọng-Thảng nhìn hai bc tranh một hồi lâu, rồi cất giọng ngâm  hai vế rất sát :

Ông đào sông, ông xây núi, ông tối lại, ông sáng ra, bàn-cổ thượng hoàng đàng chi thuyết.

Mụ áo trắng, mụ áo đen, mụ lồng đèn, mụ ống thụt, ổn-bà trung danh hiệu chi kỳ"

Mọi người vỗ tay tán-thưởng. Lúc bấy giờ có hai đứa cháu gái của gia-chủ là con Đũa và con Chén, một đứa mi lên năm, một đứa mi lên bốn, còn giổng tồng-ngồng, ở đâu ngoài sân mi chạy vào ngồi bệt ở trên thềm, quay mặt vào các vị quan-khách. Nhìn thấy vậy, ai nấy cũng túm-tím cười, nhất là khi trong ba tiệc có sự hiện-diện của một vị phụ-nữ. C-nhơn Phan-bá-Phiến rung đùi một cách đắc-chí lm và hỏi nhà thi-sĩ miền Chín-xã sông-Con lúc nãy gi còn bận ngồi nhậu-nhẹt ở ngay cạnh mình :

- Ông giỏi về thơ trào-phúng, ông th làm một bài tức-cảnh, hễ làm hay tôi sẽ thưởng cho ba quan tiền, hễ làm dở tôi sẽ tặng cho một cái giáu quạt.

Chẳng t-chối một tí nào cả, tú-tài Huỳnh-Quì cất giọng ngâm bốn câu tứ-tuyệt rất tinh-xảo, làm cho cô Dương-thị-Út ngồi ở trong tận cùng phải thẹn đỏ mặt. Bài thơ "âm-h" ấy chỉ gồm võn-vẹn có hai mươi bốn chữ như sau:


Chng vay ai, chng mượn ai,

Một đời luống những ăn khoai.

Đầu xuống, cuốn lên, miệng dọc,

Ngồi cười, đng ngậm, đi nhai.


Ba tiệc chấm-dứt với vài cuộc giải-trí thông thường như một ván cờ, một ván bung-vung, một sòng xì-lác.