Cuộc tấn-công vào sào-huyệt cuối cùng 

của Nghĩa-hội


Ngày hăm lăm tháng tư năm Đinh-hi, Nguyễn-đình-Tu cho thân-tín dẫn một toán quân sơn-phòng vượt qua lũy Đá-rồng tại làng Tây-hồ, theo đường mòn trong núi  tiến gấp về phương tây. Một toán thứ hai, dưới s hướng-đạo của tên Nguyễn-Địch, vượt lũy Đá-rồng tại làng Lâm-môncũng theo một hành-trình y hệt như trên. Hai gọng kìm ấy sẽ khép chặt lại và một buổi sớm sẽ tập-trung tại làng Tài-đá,  cách huyện-lỵ Tiên-phước chng hai cây số.

Dân-chúng trong thôn xóm thấy lính Nam-triều xuất-hiện bất-ngờ lấy làm hoảng-sợ,  lũ-lượkéo nhau đi tản-cư. Mấy toán nông-dân ở hạt Thăng-bình, đang vận-tải lúa thóc cho Nghĩa-hội trong lúc ban đêm, còn nghỉ chân tại cửa kho, liền quăng hết thúng mũng, đòn gánh chạy tán-loạn. Vòng vây lại thâu hẹp dần dần quanh một căn-cứ nghĩa-quân gồm có năm bảy căn nhà lá lúp-xúp gia một khoảnh rừng.

Cuộc tấn-công bắt đầu. Nghe tiếng súng nổ tành tạch ở khp bốn bên, lính nghĩa-dõng phá hàng rào, tranh nhau tẩu-thoát. Chỉ có tú-tài Phan-đình-Bình, thân-sinh nhà cách-mạng Phan-tây-Hồ, muốn tập-hợp dân-chúng lại để chiến-đấu, nhưng va mi cầm ống vọi lên vọng gác thì đã bị lính sơn-phòng xông ti bt giải về đại-bản-doanh chờ xét-x. Vài ngày sau, tú-tài Phan-đình-Bình trốn về chiến-khu, bị văn thân tình-nghi là phản-gián và bị đem ra trảm-quyết tại làng An-mỹ, thuộc huyện Quế-sơn. Sau khi kho lúa Tài-đan và nhng đồn-trại phụ thuộc đã bị thất-thủ, Nguyễn-duy-Hiệu liền ra lệnh cho binh-sĩ tại đồn Suối-đá và đồn Phú-lâm phải lập-tức rút lui về làng An-lâm, phủ Thăng-bình. Chỉ trong khoảnh-khắc một phần lớn miền trung-du tỉnh Quảng-nam đã lọt vào tay của chính-phủ Nam-triều.

Sau khi cho quân-đội nghỉ-ngơi một thời-gian, ngày mồng một tháng sáu năm Đinh-hi, Nguyễn-Thân lại cùng với Lê-tu-Khiết dẫn binh-mã ti bao vây làng An-lâm, ngay trên b sông Tiên. Trưc đó mấy tiếng đồng-hồ, Nghĩa-hội có bắt được tại vùng Khe-cái nhiều tên đốt than có dáng khả-nghi nên đã cấp-tốc dời hết lực-lượng vào làng Phước-sơn, một thung-lũng hiểm-trở nm giữa vùng tam-giác tạo ra bởi dãy núi Trường-sơn, sông Tranh và sông Thu-bồn. Phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu và tất cả ban tham-mưu cũng đã di-cư lên Cõng-vang, một làng Mọi thấp cách làng Phước-sơn chng năm bảy cây số về phía bắc.

Triệt hạ xong đồn An-lâm, Nguyễn-Thân quyết-tâm rượt theo quân phiến-loạn và tiêu-diệt phong-trào Cần-vương cho đến cội rễ. Ngày mồng ba tháng sáu năĐinh- hi, Nguyễn-Thân tập-trung lực-lượng tại chợ Việt-an, thuộc phủ Thăng-bình, rồi theo con đường tỉnh-lộ tiến sâu vào dãy núi Trưng-sơn. Lính sơn-phòng đi  khoảng năm cây số, nghỉ chân trong giây lát tại chợ Phú-bình, tục gọi là chợ Đồng-tranh, thuộc huyện Quế-sơn, sau đó tiếp tục cuộc hành-binh. Họ lội qua sông Trầu, một chi-nhánh của sông Thu-bồn, phát-xuất từ vùng núi Cao-ngạn, chảy ngược về phương tây. Họ đi mười bảy cây số nữa mi ti làng Tân-an và tại đây họ vượt qua sông Thu-bồn, băng qua làng Bình-huề trên một quãng đường dài non hai cây số. Họ thấy một dãy núi hình bán-nguyệt bao-bọc làng Phước-sơn, hai đầu nối liền với dãy Trường-sơn để tạo thành một Điện-biên-phủ hiểm-trở. Ngày truc người Chiêm-thành đã dùng vùng này làm sào-huyệt cho cuộc chiến-đấu bảo-vệ đất nước. Từ khi dân-tộc nầy bị suy-vong, thung-lũng theo thời-gian mà hoang-phế. Sau khi thành-lập Nghĩa-hội, phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu muốn biến những đất-đai phì-nhiêu ở đây thành nhàn-điền để có thể hậu-thuẩn cho cuộc trường-kỳ kháng-chiến và giao công việc khai-khẩn cho Thương-biện Phạm-trọng-Thảng, người làng An-tây, huyện Quế-sơn.

Muốn vào miền vô-nhơn chi-địa nầy, Nguyễn-Thân phải qua một cái truông dài chừng năm cây số, tục gọi là truông Nước, phải lội qua một cái suối khá nguy-hiểm, tục gọi là Khe-gai và thường phải chiến đấu với Nghĩa quân ẩn núp hai bên đường. Ngoài ra lính sơn-phòng còn phải chịu đựng sc phá-hoại của thiên-nhiên, phải làm quen với ma-thiêng nước-độc, lam-sơn chướng-khí và muôn loài thú dữ ở trong rng. Một khi lên tới chóp đèo, họ được mục-kích những cánh đồng bát-ngát chạy mãi cho đến tận chân trời, nhng bầy trâu cổ màu đen, màu huyền đương dẫm lau lách trong nhng đám ruộng lầy để chuẩn-bị cho mùa bát-ngoạt sắp đến. Con sông Trường, cội-nguồn của sông Thu-bồn chảy quanh-co, khúc-khuỷu gia cánh đồng như một sợi chỉ bạc. Qua khỏi đèo, họ tới vạn Phước-sơn, nơi giao-thiệp giữa người Kinh, người Thượng, cũng là nơi buôn-bán nhng th trầm dác được bọn các-lái chịu khó đi mua đổi từ những làng Mọi cao thăm-thm. Lính Nguyễn-Thân triệt hạ ngay một cái đồn, chiếm đoạt một kho tiền của Nghĩa-hội, làm cho lính đoàn-kiết và nông-phu phải chạy tản-mác. Theo đuổi cuộc hành-trình gay-go, nguy-hiểm nầy, họ băng qua một cánh đồng dài tăm-tp, cuối cùng phải đối-diện với dãy Trường-sơn. Nghỉ chân một hồi để thổi cơm nước ăn lót dạ, họ lại nghe tiếng loa, tiếng cồng vang dội ầm-ĩ trong chốn rừng-rú. Bây givới lương-thc nng chỉu trên vai, giáo mác súng ống cầm sẵn trên tay, họ cùng nhau đi vào một cái truông thâm-u dài chừng hai cây-số, tục gọi là truông Mò-ó vì ngày trưc đây là nơi sinh-sống của loài chim ó.

Sau khi qua khỏi đèo, họ đi vào hai cái thung-lũng nằm san-sát vi nhau như hai chị em ruột trong một gia-đình. Đó là thung-lủng Bà-Huỳnh, Bà-Xá, hai làng hổn-hợp có người kinh người thượng sống lẫn-lộn với nhau. Họ phải giao-tiếp với Mọi Cõng-vang  phía bắc, vi Mọi Răm, Mọi Trà-my phía nam, với Mọi Cà-doạt, Mọi Khâm-đức phía tây. Ở gia khu Bà-Huỳnh, họ trông thấy một cái đồn vừa mi thiết-lập với nhiều con trâu đương gặm cỏ một cách vô-tư bên ngoài hào-lũy. Bước vào trong thung-lũng, đi ti đâu họ cũng bị cỏ may bám chặt vào quần áo. Khi tiến tới gần vị-trí đồn Cỏ-may của Nghĩa-hội, họ dùng súng trường bn chỉ-thiên năm bảy phát để thị-uy. Từ trong những căn trại thật dài, lợp bng tranh, lính đoàn-kiết xuất-hiện đông như kiến bị động ổ. Cuộc giao-tranh xảy ra. Toán pháo-binh của người Pháp đi tiên-phong, phá được rào giậu mở đường cho quân tiêu-phủ xông vào trong đồn lũy. Nghĩa-binh chống cự không nỗi phải tìm đường tâu-thoát. Các vị tướng-lãnh như ấm-sanh Nguyễn-Thành, tham-mưu-trưởng Hồ-Học, các quan bộ-hạ như hoàng-giáp Phạm-như-Xương, thương-biện Phạm-trọng-Thảng đều bị bắt trong cơn hổn-loạn với hai mươi hai nhân-vật khác. Chỉ có phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu, cử-nhơn Phan-bá-Phiến, hai vị thủ-lãnh tối cao của Nghĩa-hội, trốn thoát được, chạy trở về làng Cõng-vang để lánh-nạn. Gia-đình của phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu, gồm một mẹ già đã 85 tuổi, một vợ chính, một vợ lẻ, ba người con trai, hai người con gái còn nh tuổi, chạy ra ẩn-núp ngoài rừng, nhưng một ngày sau phải ra đầu-thú. Lính Nam-triều thâu-thập được rất nhiều thuốc đạn, súng ống, lương-thc, ấn-kiếm trong trận đột-kích nầy. Hơn na, theo li chỉ dẫn của bà Mai-thị-Liễu, người v chính-thất phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu, người ta còn tìm thấy ở ngoài rng, nhiều kho thuốc đạn, năm cái ấn, chín trăm cuốn sổ thuế, hai trăm năm mươi cái bng tổng-lý và một thớt voi mà Nghĩa-hội đã bt được trong trận phục-kích tại huyện Hà-đông.

Sau khi tiêu-diệt xong hai đồn Bà-Huỳnh và Phước-sơn, Nguyễn-Thân liền ca-khúc khải-hoàn, kéo quân ra tạm đóng tại làng Bình-huề, ngay chỗ hiệp-lưu của sông Trầu, sông Tranh và sông Tiên. Lúc bấy giờ viên tiêu-phủ mới bt đầu xét-xử các tội-nhân chiến-tranh. Trước hết thân-mẫu của vị thủ-lãnh Nghĩa-hội, hai người dâu, năm người cháu bị đóng gông, xiềng tay và đưa vào giam tại Quảng-ngãi trong một thời-hạn là ba năm. Nhà cửa đều bị tiêu-hủy. Trong số hai mươi lăm vị tướng-lãnh va mi bị bắt, chỉ có nhà cách-mệnh Nguyễn-Thành tức Tiểu-La được tại-ngoại hậu-cứu, về sau được tha-bổng vì trong lúc làm tán-tướng đã không đồng-ý đem quân đánh tỉnh-thành Quảng-ngãi. Hoàng-giáp Phạm-như-Xương và mười nhân-vật khác phải bị giải về tỉnh-lỵ để chờ triều-đình cứu-xét. Tham-mưu-trưởng Hồ-Học, thương-biện Phạm-trọng-Thảng và mười một quan-chức còn lại bị ghép vào tội tử-hình và phải bị trảm-quyết. Ngày mồng tám tháng sáu năm đinh-hi, noi theo gương mười đồng-chí của Mai-xuân-Thưởng Bình-định, mười ba đồng-chí của Lê-trung-Đình Quảng-ngãi, tham-mưu-trưởng Hồ-Học đã mạnh dạn bước lên đoạn-đầu-đài tại làng Bình-huề, huyện Quế-sơn. Rồi lần-lượt đến mười một liệt-sĩ kế-tiếp trong Nghĩa-hội Quảng-nam. Tội-nhân thứ mười ba là thương-biện Phạm-trọng-Thảng, người làng An-tây, quận Quế-sơn, trốn thoát được, chạy về ẩn-núp tại núi ông Bổn. Thương-biện Phạm-trọng-Thảng, trong những ngày sống-sót, vẫn nuôi-dưỡng được chi-hướng, đã hợp-tác vi nhà cách-mệnh Nguyễn-Thành để phục-hồi lại Nghĩa-đảng, dưới một hình-thc mi là "phong-trào đông-du", tiền-phong cho cuộc khởi-nghĩa của vua Duy-Tân sau nầy.