Cử-nhơn Lê-tấn-Toán.


Trong một cái dinh xưa, tối tăm, ẩm thấp nằm về phía đông tỉnh-thành Quảng-nam, ngỏ thẳng ra cái sân hình cung lát toàn bằng đá ong màu xám, tuần-vũ Châu-đình-Kế đương ngồi tại bàn giấy chăm-chú đọc một tờ truyền-đơn viết bằng chữ nho có đóng dấu son khá to ở phía dưới. Đó là bài "Vè Khâm-sai" mà bọn thám-tử đã thấy dán tại các cỗng đình, cỗng chùa, các ngả ba và tức-tốc đem về nạp cho quan sở-tại. Truyền đơn viết như sau :


Lẵng-lặng mà nghe,

Cái vè sai đạo.

Danh vi trấp đạo,

Vụ dĩ an-dân.

Khâm-sai đại-thần,

Kéo vô Đà-nẵng.

Tướng quân đều sẵn,

Tán-lý, tán-tương.

Chú bang, chú thưng,

Chú đề, chú lãnh.

Quân ròng tướng mạnh,

Các đội, các cơ,

Đánh trống, mở cờ,

Kéo vô tỉnh củ,

Phát vãng thượng-du.

Thác-cá, Rạp-cu,

Đôi đường tấn-tiêu,

Nhứt thời phương liệu,

Văn-miếu đồn binh.

Ai thấy cũng kinh,

Gọi Khâm-sai giỏi.

Kêu dân tới hỏi.

Rằng Nghĩa đã tàn.

Hạnh hoặc tương-an,

Thị vi thanh sự.

Sau lên Phong-thử,

Nghĩa dõng tư-vi.

May chẳng hề chi,

Nhờ ba chú Pháp.

Thâu qua Yên-giáp,

Trở lại La-thành,

Từ ấy thất-kinh,

Và làm và sợ.

Tướng chi, tướng dở,

Vi luyện quân tinh,

Chẳng có Tây binh,

E không khỏi chết.

Chước chi cũng hết,

Năm ngoái, năm ni,

Làm chẳng ra chi,

Lại thêm ăn bậy.

Lũ quân đi lấy,

Các tướng về chia.

Thôi đã tràn đìa,

Cái chi cũng xách.

Cái quần đã rách,

Cái áo tả-tơi,

Cùng giành mà quơ,

Huống chi cái khá?

Kẻ thì đào mả,

Người lại phá nhà.

Những chó, những gà,

Những heo những vịt,

Bắt mà ăn thịt,

Lại bán lấy tiền,

Đem về Thừa-thiên,

Nghĩa-bình, Quảng-trị.

Thâm-vi khả bỉ,

Quân lệnh khâm-sai,

Thiên-hạ ai ai,

Chớ tin mà mắc.

Thác từ đánh giặc,

Hai ngã bình-dân,

Thiên-địa, qu-thần,

Nguyện kỳ chiếu giám.

Nói càng thêm thảm,

Chẳng biết làm sao.

Hiệu lệnh dường nào,

Quân gia đến thế?

Hà mưu hà kế,

Hà lự hà tư!

Viên những đồ hư,

Để đi ăn giựt.

Bên nào đắc lực,

Tấn-trật, thăng-quan.

Lớn bé một đoàn,

Vô sở bất chí.

Nhơn dân nghị nghị,

Thùy lạc chi tùng.

Sự thế nhựt cùng,

Quảng-nam ở lỗ.

Trời làm chi khổ,

Thất-đảo bát-điên!

Nói lắm cũng phiền,

Như tư, như dĩ.

Nghĩa-hội đồng ký.


Châu-đình-Kế đọc bài vè một hơi từ đầu chí cuối, ném xuống bàn rồi đập một cái thật mạnh có vẻ bực-tức lắm. Tức thì một người lính giản mặc áo khách màu xanh, quần vải ta trắng, chít khăn lược đen, từ phía ngoài vòng hai tay chạy vào. Trông thấy người lính hầu-cận hằng ngày, tuần-vũ Châu-đình-Kế cất giọng:

-Điếu mày!

Châu-đình-Kế ngậm cái điếu bằng tre ngà có đốt nhặt, kéo một hơi dài, hít vào lồng phổi một ít làn khói, phần còn lại thì phì ra ngoài khoảng trống thành những đám mây màu tro nhạt. Rồi quan tuần-vũ ngồi một mình mà suy-nghĩ vẩn-vơ, hai mắt lim-dim, như đang chìm đắm trong thế-giới xa-xăm huyền-ảo. Từng khắc, người ta  nghe những tiếng chắc lưỡi, những câu thì-thầm thốt ra từ đáy tâm-cang của vị thủ-hiến. Ngài đương hồi-tưởng lại những ngày hành-dịch vừa mới trải qua bên cạnh hai vị đại-thần, một người là quan Khâm-sai Phan-thanh-Liêm, thứ-nam của tiến-sĩ Phan-thanh-Giản, từ kinh-đô phái vào; một người nữa là quan nghĩa-định chiêu-thảo-sứ Nguyễn-Thân, vừa ở Quảng-ngãi ra để hiệp-sức với chính-quyền địa-phương mà đi hiếu-dụ. Phái-đoàn lên tới Phong-thử, bị lính đoàn-kiết và nhân-dân bao-vây chặc-chẽ không thi-thố được việc gì, phải kéo lên Ái-nghĩa, kéo sang Quảng-huê, tới đâu cũng gặp sức phản-ứng ngấm-ngầm của dân-chúng, cuối cùng phải rút về tạm đóng tại nhà văn-thánh ở làng Phước-kiều, thuộc phủ Điện-bàn, rồi kéo thẳng vào miền sông Trà-khúc. Nghĩ đến những sự thất-bại đau-đớn vừa qua, quan tuần-vũ vừa thẹn-thùng, vừa căm-tức. Ngài lẩm-bẩm:

- Ta sẽ thẳng tay đàn-áp cho chúng nó biết mặt. Vừa mới hôm qua đã trừ được một tên tướng giặc lợi hại. Ta đã bắt lý-hương làng Khai-đồng lên Tân-tnh, sào-huyệt của bọn khỉ-ngụy, để dẫn tên ngự-sử Hoàng-bá-Chính về cho ta nghị-xử. Kế ấy rất hay, ta cứ đánh đầu đánh cổ bọn lý-hương là xong chuyện, rồi một hai ba bốn tên phiến-nghịch phải ra đầu-hàng. Tên lãnh-tụ Nguyễn-duy-Hiệu có giỏi thì tìm cách mà tránh cho khỏi lọt vào nanh-vuốt cuả ta. Ta sẽ giết hết, giết, giết hết!!! Vừa nói quan tuần-vũ vừa nghiến răng, hai tay ấn mạnh xuống dưới bàn, hai con mắt lươn nhíu lại như cố-gắng gượng lấy sức để nhảy chồm tới, y hệt như con mãnh-thú trước khi xông vào xé con mồi phía trước. Chính trong lúc ấy, một người lính giản xồng-xộc chạy vào, vòng tay thưa:

-Bẫm cụ lớn có khách.

Từ phía ngoài hiên, một vị bô-lão đã ngoại thất-tuần, râu tóc bạc phơ nhưng nét mặt có vẻ cứng-rắn, quắc-thước, đương thong-dong tiến vào. Tuần-vũ Châu-đình-Kế đích thân ra tiếp vị tân-khách và cả hai người ngồi nói chuyện trên bộ trường-kỷ đặt song song hai bên cái bàn gỗ lim có lát đá màu cẫm-thạch. Vị bô lão bắt đầu xin-lỗi trước:

- Tôi nhận giấy mời đã lâu, nhưng vì mấy ngày gần đây trong mình cảm thấy bần-thần, không thể vào hầu quan sở-tại tức-khắc được. Xin ngài thứ-lỗi cho cái tội khinh-xuất ấy.

Tuần-vũ Châu-đình-Kế nhanh chóng đáp lại:

- Tôi cũng có ý mong-mỏi gặp thầy ở tại tỉnh-đường để bàn về một vài việc có liên can đến tình-hình trong nước. Thầy cũng nên hiểu cho tôi rằng lúc nầy chiến-sự đã trở nên gay-gắt, tôi không thể nào bỏ trú-sở một giờ một khắc được.

Rồi vị thủ-hiến lấy tay chỉ bản địa-đồ treo trên bức tường và dõng-dạc nói tiếp:

- Người Pháp đã kiễm-soát tất-cả miền bắc tỉnh Quảng-nam gồm có bốn hạt Điện-bàn, Duy-xuyên, Đại-lộc và Hòa-vang. Hiện nay họ đã thiết-lập xong hai cứ-điểm nữa tại Bà-rén và Hà-lam. Nhờ có hai tiền-đồn ấy, họ sẽ mở rộng phạm-vi chiếm-đóng vào miền rừng núi, chẳng bao lâu nữa họ sẽ kiểm-soát luôn bốn hạt Thăng-bình, Quế-sơn, Tam-kỳ, Tiên-phước ở về phía nam. Lúc bấy giờ bọn phiến loạn khó lòng mà trốn khỏi nanh-vút của chúng ta được!

Cử-nhơn Lê-tấn-Toán chờ cho vị thủ-hiến dứt lời mới cho nhận-xét:

- Sống trong chốn lậu-hạng, tôi không biết rõ cuộc chiến-tranh nầy sẽ đem lại thắng-lợi hay thất-bại cho bên nào, nhưng tôi thiết-tưởng người Pháp càng mở rộng phạm-vi chiếm-đóng chừng nào thì lại càng làm cho nhân-dân Quảng-nam phải chết chóc, tù-đày, nhục-nhã chừng nấy!

Tuần-vũ Châu-đình-Kế ngắt lời:

- Thầy cũng nên biết rằng nhờ có tôi vào giữ chức tuần-vũ tỉnh nầy, nhân-dân mới có thể tránh được nhiều tai-họa kinh-khủng hơn nữa. Ở tại miền Bắc-kỳ và cả miền Nam-kỳ nhân-dân còn phải tủi-nhục, khổ-sở gấp trăm, gấp nghìn lần hơn thế nữa. Tôi mà rời khỏi cái ghế thủ-hiến nầy thì thầy sẽ trông thấy hậu-qu ngay tức-khắc.

Tuần-vũ Châu-đình-Kế vừa nói vừa nhớm đứng dậy như muốn bày tỏ cho kẻ đối-diện có thể ý-thức rằng mình cũng không thèm địa-vị và có thể sẵn-sàng khước-bỏ tất cả chức-tước, quyền-lợi nếu cần. Rồi y nói tiếp:

- Không nói đâu xa, ngay tại vùng Bình-định nầy, một bàn tay của quan đốc-phủ-sứ Trần-bá-Lộc cũng đủ làm cho dân chúng phải khiếp sợ. Kéo binh từ Sài-gòn ra để tấn-tiêu miền Bình-phú, quan đốc-phủ-sứ dừng lại làng nào thì tức-khắc bọn lý-hương phải lo cung-cấp cho đủ heo bò, gạo nếp. Nếu trễ một giờ, một khắc là tất cả các vị bô-lão và chức-sắc đều bị tử-hình, hoặc chém bằng gươm hoặc giết bằng súng. Còn những hạng trẻ con vừa mới lên ba lên năm có tính hiếu-kỳ thì bọn lính cho đánh trống khua chiêng để tụ-tập lại cho thật đông, rồi chúng nó bắt từng đứa một dồi lên trên không cho rơi xuống dáo mác mũi nhọn ở phía dưới. Tôi chắc rằng thầy không muốn cái trò nô đùa ấy lại diễn ra tại vùng Quảng-nam nầy!

Cử-nhơn Lê-tấn-Toán suy-nghĩ một hồi lâu, rồi đáp:

- Tôi nghe nói người Pháp đóng tại chợ Hà-lam thường hay tổ-chức những cuộc hành-binh về miền sơn-cước. Mỗi khi họ kéo quân như vầy về phía chợ Vinh-huy, Việt-an hay Đông-phú, họ lấy bọn lưu-manh, du-thủ du-thực đi trước để làm hàng rào cho mình. Tới đâu bọn bất-lương nầy cũng dở cái thủ-đoạn giết người cướp của y hệt như  miền đàng trong, tệ hơn nữa họ còn bắt đàn bà con gái đem về đồn-lũy để thỏa-mãn cái thú nhục-dục của mình. Ngài tính quân-thù đã tới nhà, đã vào trong xó bếp thì làm sao mà tránh cho được những cái họa tày trời ấy!

Tuần-vủ Châu-đình-Kế trả lời ngay:

- Tôi có thể tránh được tất cả, miễn là thầy vui-lòng giúp-đỡ tôi trong việc bình-định xứ sở nầy. Vì vậy bữa nay tôi mới rước thầy tới đây, tôi có thảo sẵn một bản hiệu-triệu để kêu gọi bọn văn-thân ra đầu-thú, trở về hợp-tác với triều-đình. Đó là phương-tiện duy-nhất để chận đứng cuộc chiến-tranh tàn-khốc nầy. Thầy là người có uy-tín nhất trong hàng-ngũ Cần-vương, hễ thầy nói ra một lời thì dân-chúng phải tuân theo muôn người như một. Tôi xin cam-đoan với thầy rằng một khi đất nước đã trở lại yên-ổn, cái công-lao của thầy không phải là nhỏ, tôi sẽ thân-hành trở về kinh-đô để trình-bày công việc cho Hoàng-thượng biết.

Nghe tới đây, cử-nhơn Lê-tấn-Toán hơi biến sắc mặt. Với giọng run run vì xúc-động, ông tìm những lời lẽ thích-hợp để từ-chối:

- Tôi không bao giờ nệ-hà một việc gì miễn là việc ấy có thể đem lại sự an-vui dầu là nhỏ-mọn cho dân chúng. Nhưng ngài cũng nên biết rằng tôi là một kẻ xuất-thân nơi sân-Trình cửa-Khổng, chẵng lẽ tôi lại đem tàn-lực ra làm một việc trái với chính-nghĩa?

Lúc bấy giờ tuần-vũ Châu-đình-Kế hằm hằm vẻ mặt, trợn dộc hai con mắt lên:

- Chính-nghĩa là gì! Triều-đình trông mong thầy đào-luyện học-trò thành tài để ra giúp ích cho nước nhà, ngờ đâu thầy dạy được một tên học-trò như phó-bảng Nguyền-duy-Hiệu, chính là một thằng giặc.

Nghe dứt câu ấy, cử-nhơn Lê-tấn-Toán cảm thấy rụng-rời, tâm-thần choáng-váng. Trong tay đương cầm chén nước trà, ông liền đứng dậy, đập vở vào mặt bàn, nghiến răng, trợn mắt bảo vị thủ-hiến:

- Thời thế này! quan lớn biết ai là vua, ai là giặc mà dám ăn nói ngang-nhiên như vậy!

Vừa dứt lời, ông ngã gục xuống ghế và chết hẳn, thần-sắc vẫn còn oai-hùng, quắc-thước y hệt như khi còn sống.

Thi-hành xong thủ-đoạn ghê tởm của mình, tuần-vũ Châu-đình-Kế đứng nhìn thi-hài của vị danh-sư một cách lạnh-lùng, thản-nhiên, rồi bỉu môi nói thầm:

- Ta ví Nghĩa-hội như một con người, với một cái đầu, hai tay chân và một cái bụng khổng-lồ. Nay ta vừa mới chặt xong cái đầu, chỉ còn lo kỳ diệt một vị tướng-lãnh nữa ở miền Chín-xã sông-Con là ta đã chặt luôn cả tay chân; ta chỉ còn mỗi một việc nữa là thực-hiện chính-sách dĩ độc trừ độc, chờ cho văn-thân mâu-thuẫn chia rẽ với nhau mà tan-rã dần dần. Lúc bấy giờ chỉ còn một mình ta sống sót trong cuộc chiến-đấu gay-go, cam-khổ nầy, ta sẽ điềm-nhiên mà hưởng phú-qúi.

Nghĩ đến tương-lai tốt đẹp ấy, vị thủ-hiến kín-đáo mĩm cười.