Nồi da xáo thịt


Tú-tài Trần-Thừa, tục gọi là Trần-Đỉnh, ở làng Gia-cốc, huyện Đại-lộc, một người rất có danh-tiếng trong đám Nghĩa-hội, lại bị chột hết một con mắt. Một hôm ông Trần- Thừa mời thi-sĩ Huỳnh-Quì đến nhà uống rượu cho khuây-khỏa. Hai bên chén-tạc chén-thù đã quá say-sưa, tú-tài Trần-Thừa liền bảo:

- Ma mà bắt anh đi! khuyên làm không làm, cứ ở lầm-lì trong xó bếp thơ từ xỏ lá mãi! nào anh tức-tịch tặng tôi một bài, nếu cạn chén nầy mà không xong thì xin anh phải biết rằng ở đây việc gì cũng chỉ lấy quân-pháp tòng-sự.

Thi-sĩ Huỳnh-Qùi vâng mệnh đọc mới được có hai câu:


Bình-Tây sát-tả thiếu chi người,

Nhắm lại anh-hùng chỉ một ngươi


Tú-tài Trần-Thừa đứng dậy, vội-vả ngắt lời:

- Đã lại xỏ! Thôi xin bác đừng đọc nữa.

Tú-Tài Trần-Thừa chiếm cứ một dải đất bao-la, án-ngữ mặt bắc cho thành Tân-tỉnh  chạy từ thị-trấn Đà-nẳng cho tới sông Thu-bồn, tây có núi Trường-sơn, đông có biển-Đông.  Vốn là tay lão-luyện võ-nghệ, am-hiểu lục-thao tam-lược, ông đã xuất tiền bạc ra chiêu-mộ dân-chúng ở miền Chín-xã sông-Con, tổ-chức thành đoàn quân Nam-dõng có hàng ngũ chỉnh-t, có kỷ-cương chặc-chẽ. Binh lính của ông mặc đồng-phục, áo bà-ba màu nâu cho khác hẳn với màu lá chàm-rốt thông-thường ở Quảng-nam, quần cộc màu trắng, đi chân không, đầu chít khăn hổ-hoàng hay nguyệt-bạch, hài tua giáp vòng ra sau ót rồi buông lòng-thòng như một cái đuôi chồn. Đoàn nghĩa-binh chỉ có những thứ vũ-khí thô-sơ:cái khiên bằng rơm để tự-vệ, cái giáo, cái mã-tấu để lâm-thời tấn-công. Họa-hoằn trong mỗi đội, mỗi cơ, người ta mới trông thấy dăm ba chiếc súng-trường bằng gang, bằng đồng đã cướp của người Pháp trong những trận phục-kích tại Văn-li, Phong-thử hay đã chiếm của người công-giáo trong những trận bao-vây họ đạo tại Trà-kiệu, tại Phước-thượng. Thứ hỏa-khí mà họ năng sử-dụng là một chiếc hỏa-mai làm bằng gốc tre khô chẻ ra làm hai để xoi lòng và nhập lại một, siết thật sát bởi những cái niền tròn bằng sắt. Trước khi phát hỏa, phải tháo súng ra để nạp mã-tử, một thứ thuốc nổ gồm hai chất lưu-huỳnh và than sầu-đâu nghiền nhỏ thành bột. Lưu-huỳnh là một chất hiếm-hoi lắm, họ phải có những kẻ mối lái nằm chực sẵn ở Hội-an, ở Đà-nẳng mới có thể này lại  một ít. Về sau người Pháp kiễm-soát chặc-chẽ hơn việc mua bán với bên địch, họ phải tìm cách sáng-chế ra tất cả những vật-liệu cần-thiết cho việc dụng-binh và nghe nói Tiểu-la Nguyễn-Thành là người đầu tiên đã khai-thác được nhiều lưu-huỳnh ở miền núi. Những viên đạn đúc bằng chì, bằng đồng thì hay xoáy hình khu ốc và có một tầm hoạt-động rất ngắn. Mỗi khi muốn phát hỏa, lính Nam-dõng phải dở chiếc hồ bao ra, lấy một con dao xếp đánh thật mạnh vào hòn đá lửa cho tia sáng văng tứ-tung, rồi lấy bùi-nhùi làm mồi châm vào chất mã-tử. Bắn xong một phát, lòng súng bị phủ bởi chất mồ-hôi đặc ngàu y hệt như nhựa thuốc lào trong chiếc điếu càyphải dùng một cái nòng, lau súng cho thật sạch ở bên trong, mới có thể nạp viên đạn thứ hai. Nghĩa-binh không có hỏa-lực hùng-hậu, nhưng sức chiến-đấu, tấm lòng quả-cảm thì người Pháp không thể nào so-sánh cho kịp được. Nhờ có đội quân tinh-nhuệ ấy, tú-tài Trần-Thừa một mình vẫn có thể đương-đầu với chính-quyền địa-phương của tuần-vũ Châu-đình-Kế, với các họ đạo Thiên-chúa ở Trà-kiệu, Phước-thượng và nhất là với đoàn quân viễn-chinh của Pháp. Những trận chiến-thắng thường hay đem lại cho ông sự tự-tín vô-biên vào tài-nghệ của mình và tính tự-cao tự-đại. Từ ngày văn-thân họp tại làng La-tháp và thành-lập Nghĩa-hội có đại-biểu Quảng-nghĩa và Bình-định ra dự, các vị thân-hào nhân-sĩ đều giải-tán quân-đội của mình đ gia-nhập thật sự vào tổ-chức mới, uống huyết ăn thề trước mặt quần-chúng. Duy có đoàn quân Nam-Dõng là đứng biệt-lập và vị chỉ-huy tối cao ở miền Chín-xã sông-Con lại có thái-độ không rỏ-rệt. Vào thượng-tuần tháng tám năm 1885, ông cũng kéo binh lính qua bao-vây họ đạo làng Trà-kiệu, đóng tại Hòn-Trược một thới-gian, rồi bất-hòa với ban chỉ-huy, bỏ về một cách lặng-lẽ. Vào thượng-tuần tháng chín năm 1885, ông cũng hiệp-sức với nhóm văn-thân qua bao vây họ đạo Phước-thượng ở huyện Hòa-vang, nhưng cha-sở May-De kháng-cự mãnh-liệt. Vả lại cứ-điểm nầy được bảo-vệ bởi hạm-đội Touchard đóng ngoài Vũng-thùng; ông biết thế không đánh nỗi, phải rút quân về giữ đồn Phúc-hưng, cách nhà thờ Phú-thượng chừng năm cây số. Ông rất khinh-thường lực-lượng Nam-triều của tuần-vũ Châu-đình-Kế ở Vĩnh-điện và ít khi giao-phong mãnh-liệt vì thủ-hiến tỉnh Quảng-nam là  người khôn-ngoan nhưng nhút-nhát, suốt ngày thu mình trong đồn lũy, chỉ chờ cho người Pháp đi đánh dẹp xong là chạy giấy về triều-đình để lập công. Đối với người ngoại-quốc, Tú-tài Trần-Thừa lại hết sức dè-dặt, không bao giờ mở những trận-địa-chiến ồ-ạt, chỉ núp lén trong bờ trong bụi, dùng lối đánh du-kích để tiêu-hao lực-lượng bên địch. Mãi cho đến cuối năm 1885, đạo quân viễn-chinh Pháp cũng không thường-trú trong tỉnh Quảng-nam, ngoại-trừ một hạm-đội của thiếu-tá Touchard đậu ở ngoài khơi thị-trấn Đà-nẳng. Ông phải lo tổ-chức những cơ-quan tình-báo trong lòng địch, phải thiết-lập nhiều đơn-vị phòng-ngự theo dọc con đường thiên-lý. Ngày mồng bốn tháng chạp năm 1885, thiếu-tá Cardot dẫn quân đi tấn-tiêu miền sơn-cước, triệt-hạ tất cả những hệ-thống phòng-thủ của tiến-sĩ Trần-văn-Dư tại Dương-yên. Khi rút về tạm trú tại tỉnh thành Vĩnh-điện, thiếu-tá Cardot, một mặt phái đại-úy Daniel dẫn một trung-đội thủy-lục-binh vào biểu-diễn lực-lượng tại ngã tư Hà-lam thuộc phủ Thăng-bình, hộ-tống cho hai anh em ông phó-bảng Nguyễn-Thuật trở về kinh-đô; mặt khác lại phái một trung-đội lạp-binh ra Đà-nẳng phối-hợp với bốn chục thủy-binh thuộc hạm-đội Touchard đậu ở ngoài Vũng-thùng để tảo-thanh miền bắc Hòa-vang và khu Phước-thượng. Nghe thám-tử chạy về báo-cáo, tú-tài Trần-Thừa lập tức cho rút quân Nam-Dõng ra khỏi đồn Phúc-hưng và kéo về đóng tại vị-trí cũ.

Vào khoảng tháng hai năm 1886, ở Pháp quốc có cuộc tranh-chấp sôi-nổi về vấn-đề Đông-dương và có sự thay-đổi nội-các. Thiếu-tướng Prudhomme từ trước đến nay vẫn chỉ-huy lực-lượng viễn-chinh ở Thuận-hóa phải rút hết những quân-đội dưới quyền điều-khiển của mình ra Hà-nội để chuẩn-bị về nước. Lúc ban đầu, việc di-chuyển nầy không khỏi gây ra mối giao-động lớn trong chính-phủ Nam-triều cũng như trong Nghĩa-hội. Tú-tài Trần-Thừa bèn lợi-dụng thời-kỳ giao-thời nầy để phản-công và đem lại thắng-lợi cho mình. Lúc bấy giờ bộ tham-mưu Pháp đương lo tu-chỉnh gấp rút con đường thiên-lý nối liền hai thành-phố Thuận-hóa và Đà-nẳng để chuẩn-bị cho việc đồn-trú binh-lực và thiết-lập nền cai-trị tại miền nam xứ Trung-kỳ. Ngày hai mươi sáu tháng hai năm 1886, đại-uý Besson dẫn ba viên hạ-sĩ-quan thuộc toán công-binh và sáu người lính Pháp vào làng Nam-trung, thuộc huyện Hòa-vang, để chỉ-huy số phu bản-xứ vừa mới chiêu-mộ. Tới nơi, mặt trời đã lặn. Sau bữa cơm tối, đại-úy phải tạm-trú với tiểu-đội người Pháp trong những căn nhà lá của dân chài nằm rải-rác trên bờ bể, viên thông-ngôn Trần Quế và tất cả nhân-công thì vào trọ trong xóm phía bên kia con đường thiên-lý. Từ lúc chạng-vạng, dân-chúng đã dời hết đồ đạc ra ngoài đồng, ngoài rú, họ làm việc một cách hết-sức âm-thầm, bí-mật. Bọn chài lưới đã nhận được lệnh giữ nguyên tình-trạng để tránh sự nghi-ngờ của bọn da trắng. Viên thông-ngôn Trần-Quế và phu phen đều có mục-kích những sự di-chuyển bất thình-lình nầy, nhưng ai nấy cũng không muốn tố-giác. Đại-úy Besson không biết rõ những âm-mưu đang diễn-biến một cách bất-lợi cho mình. Có một viên hạ-sĩ-quan chạy tới khẩn-khoản xin đại-úy vào Đà-nẳng nhận lương-bổ cho mình vì quân-đội đã hết tiền bạc tiêu dùng từ lâu. Đại-uý Besson vui-vẻ trả-lời:

- Hãy thư-thả một chút! chờ cho công-việc ở đây hoàn-tất, sẽ khỉ-hành một lượt cũng không muộn.

Bất ngờ vào ngày mồng một tháng ba năm 1886, một toán quân Nam-Dõng của tán-tướng Trần-Thừa, đông tới chừng một trăm người lính, ồ ạt kéo tới làng Nam-trung. Viên chỉ-huy nghĩa-binh ngồi trên mình ngưạ, bắn một tiếng súng làm hiệu, sau một tiếng hô xung-phong vang trời, toán quân ấy chia ra từng tốp đột-kích vào những căn nhà lá của người Pháp trong khi đại-úy Besson và cả tiểu-đội còn đương ngủ yên. Nghĩa-binh hạ-sát hết những người da trắng, lấy đầu của viên đại-úy, rồi phóng hỏa đốt tất cả những căn nhà lá ở dọc hai bên đường. Ngọn lửa bùng lên rất cao, chiếu sáng cả bầu trời, soi sáng mấy dãy núi ở dưới chân đèo Hải-vân và ghe thuyền đậu tại Vũng-thùng. Dân chúng thành-phố Đà-nẳng phải trải qua một đêm kinh-hoàng. Rạng ngày mồng hai, các nhà chức-trách đến tận nơi xem xét, chỉ còn thấy dân chúng, ngồi quanh một đống tro tàn. Khi bị hỏi:

- Các ông có điều gì kêu ca với chính-quyên hay không?

Mấy vị bô-lảo trả-lời:

- Chúng tôi vui-lòng hy-sinh vì chính-nghĩa.

Trận Nam-quan vừa chấm-dứt, đem lại sự hoang-mang cho một vài người và niềm tin-tưởng cho nhiều kẻ khác. Ngày mồng bốn tháng ba năm 1886, thiếu-tá Bouttefroy lại dẫn ba chục lạp-binh đi từ Thuận-hóa vào đèo Hải-vân để thay gác cho đội thứ nhất và đội thứ ba thuộc đại-đội thứ mười một. Hai đơn-vị sau nầy phụ-trách canh-giữ mấy tiểu-đồn trên chóp đèo nhưng vừa được lệnh phải vào cửa Hàn để lên tàu về Pháp. Sau khi làm lễ bàn-giao xong, họ vội-vã lên đường, dưới sự chỉ-huy của đại-úy Lelardeux thuộc đoàn thủy-lục-quân. Họ vừa mới tới địa-phận làng Quan-nam, trên con đường thiên-lý thì gặp ổ phục-kích của tán-tướng Trần-Thừa. Lính Nam-dõng nằm lúp-xúp trong những bụi rậm, bất-thần xuất-hiện. Thời may lúc bấy giờ đại-uý Lelardeux nhanh mắt trông thấy lập-tức ra lệnh cho quân-đội mình dừng lại. Người Pháp kháng-cự rất mãnh-liệt mới có thể thoát khỏi cuộc mưu-sát. Trận Quan-nam không đem lại cho Nghĩa-binh một thắng-lợi lớn lao nhưng đã làm cho kẻ thù phải một phen kinh-hồn mất vía. Vì vậy bộ tham-mưu Pháp ở Huế phải mở một cuộc hành-binh để biểu-dương lực-lượng.

Ngày mồng mười tháng ba năm 1886, trung-đội lạp-binh thứ tư lại được phái vào tỉnh thành Quảng-nam để đi tuần-trấp. Ngày mười bốn tháng ba h tới đóng tại chợ Quảng-huế, thuộc huyện Đại-lộc. Bắt dân chúng đi làm tiên-phong, trung-đội lạp-binh vượt qua sông tiến về phía làng Gia-cốc, sào-huyệt của tán-tướng Trần Thừa. Lính Nam-dõng núp sau lưng bờ đê làng Quảng-đại bắn trả chận lại nhưng vô-hiệu. Trong giây lát họ đã triệt-hạ được những tháp canh, hào-lũy của dân-quân và tới bao vây ngôi đồn chính nằm giữa một cánh đồng. Tán-tuớng Trần-Thừa phải rút lui sau khi để lại trên bãi chiến-trường một số xác chết và một số người bị thương. Đánh dẹp xong, người Pháp kiểm-điểm quân số thấy không có ai bị thiếu sót, bèn theo con đường Cây Sanh mà nhanh chóng kéo về. Mỗi khi đi băng qua một thôn-xóm trù-mật, họ lại dừng bước để trò chuyện vui-vẻ với dân-chúng y hệt như không có việc gì đáng tiếc xảy ra. Bọn lý-hương, những kẻ sợ sệt lại hốt ổ trứng gà bỏ vào trong thúng cời đem ra đặt ở đầu làng làm tặng phẩm. Thấy vậy bọn lính Pháp liền đưa tay ra hốt hết, bỏ vào trong bị rết, vừa đi vừa nói bập bẹ năm ba tiếng Việt nam mới học lóm "tốt lắm, An-nam tốt lắm". Lính Pháp về gần tới làng Quảng-đại thì gặp dân chúng đương tụ-họp bàn-tán xôn-xao. Nhiều thanh-niên tò mò trèo lên cây sanh để xem ngọn lửa bốc cháy sáng cả một góc trời và chưa kịp trèo xuống. Viên chỉ-huy Pháp tưởng là Nghĩa-binh kéo ra chận đường, bèn hạ lệnh cho bộ-đội của mình bắn xả vào đám người vô tội. Trận Gia-cốc kết-liễu bằng một cuộc đổ máu lần thứ hai thê-thảm và trầm-trọng hơn. Để cầu-siêu cho những chiến-sĩ trận-vong, tú-tài Huỳnh-Quì có làm một bài văn tế, nay còn truyền-tụng mấy vế như sau:


Đồn Gia-cốc thử chơi một trận, chết hăm mốt, bị thương cũng hăm mốt, nợ quân-vương trả đặng bấy nhiêu người.

Đường cây Sanh kéo thẳng hai tua, lên trăm hai, mà về cũng trăm hai, trách trời đất cớ sao riêng vị nó.


Tin thất-trận đưa về Tân-tỉnh. Phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu cấp-tốc hội họp bá-quan văn-võ để trình-bày:

- Đồn Gia-cốc án-ngữ cho tỉnh-thành về mặt đông bắc. Nay người Pháp đã vượt qua sông con, đã vào miền cấm-địa, tức là tỉnh-thành chúng ta đã bị uy-hiếp. Tôi xin qúi ngài, ai nấy cũng bày tỏ ý-kiến để tìm cách đối-phó cho kịp thời.

Thấy không có người phát-biểu, quản Hách, một nhân-vật tại làng Ngô-cang, thuộc huyện Quế-sơn đứng dậy nói:

- Tôi nghe phong-phong tú-tài Trần-Thừa muốn bắt tay với giặc để làm phản lại Nghĩa-hội. Tuần-vũ Châu-đình-Kế thường hay bí -mật cho người ra vào để dụ-dỗ. Nếu ta không sớm liệu tìm cách trừ tên gian-thần ấy thì mối nguy-cơ sẽ xảy đến trong giây lát.

Phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu nhìn chăm-chú vào cử-tọa rồi hỏi lại:

- Làm cách nào mà trừ?

Quản Hách lại đứng dậy, thó người cao lớn, nổi bật hẳn trong đám quần-chúng và nói tiếp:

- Bây giờ cử binh ra bắt hắn thì sợ không tránh nỗi cuộc nội-chiến, huynh-đệ tương-tàn. Trong vùng Chín-xã sông-Con ngày trước, có nhiều vị thân-hào hay kéo binh-lực riêng của mình mà thanh-toán lẫn nhau, vì một cớ bên nầy bắn một người không nộp thuế, hay có tội-lỗi về xét-xử, bên kia lập tức tới đánh giải-vây, hắn đứng ở trên không làm trọng-tài, mà lại kéo quân tới đàn-áp cho nên đã xảy ra nhiều vụ rối-loạn không hay. Ta không nên theo chiến-thuật ấy. Bây giờ hắn vừa mới thất-trận, ta nên viết thư khuyên hắn vào đây để bàn về vấn-đề quân-sự. Lẽ tất-nhiên hắn phải đến và một khi hắn đã đem thân nộp vào cửa công, ta sẽ có phương-pháp đối-phó "

Phó-bảng Nguyền-duy-Hiệu gật đầu có vẻ bằng-lòng lắm và nói một cách dõng-dạc:

- Được rồi, tên phụ-khí ấy phải đền nợ cho tổ-quốc!

Ngày sau, tức nhằm vào ngày hăm hai tháng hai năm bính-tuất, tại dinh quan phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu, người ta có bày một bữa tiệc linh-đình. Quan văn quan võ đến tề-tựu đông đủ, người nào kẻ nấy ăn mặc lễ-phục theo phẩm-trật, chức-tước của mình. Lính tráng bồng súng canh gác ở bên ngoài, bên trong một cách chỉnh-tề, nghiêm-trang lắm.

Tán-tuớng Trần-Thừa đi một chiếc võng điều tới phó hội. Khi ông vào hội-trường, cử-tọa đều đứng dậy chào hỏi một cách niềm-nỡ.

Phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu nói một vài lời chào hỏi thân-mật rồi tuyên-bố lý do:

- Miền Chín-xã sông-Con là cửa trước và cửa chính của tỉnh-thành. Nay nhất thời quân Pháp tấn-tiêu, mình phải rút lui, đó cũng là một cái kế rất hay, nhưng thiết-tưởng một khi nó đã về thì cũng có lúc nó trở lại. Ta nên tìm một biện-pháp thích-ứng để ngăn-ngừa bọn Tây nô ấy để an lòng dân. Trước khi vào vấn-đề, tôi xin mời cử-tọa cùng tôi nâng chén rượu lạt để cầu-chúc cho Thánh-thượng, còn đương phải xuất-bôn, được khánh-thọ, giang-sơn mau được khôi-phục.

Mọi người vổ tay hoan-nghênh và cùng nhau đưa chén rượu lên tận trán mà cúi đầu xuống một cách cung-kính. Chính trong giây phút trầm-ngâm yên-lắng ấy, một việc không may lại xảy ra. Cái chén xưa, màu nguyệt-bạch, từ tay vị tổng-đốc rơi xuống chạm mặt bàn tạo ra một âm-thanh khô-khan sắc-bén và vỡ ra làm nhiều mảnh. Nghe ám-hiệu, tức thì một tên lính mặc áo đen quần đen, chít khăn vải tàu điều, từ trong phòng kín nhảy ra, đi siêu một vài vòng, rồi tiến sát về phía tán-tướng Trần- Thừa mà hô to một tiếng "phản tặc". Vị tướng lãnh này chưa kịp quay mặt lại thì đã bị tên đao-phủ tặng cho một lát gươm hết sức mạnh, đầu bị đứt rơi hẳn xuống dưới đất, máu phun vọt ra lai-láng.

Tin lành, tin dữ đồn ra như tên bắn. Trong chốc lát, trên con đường tỉnh-lộ chạy từ làng Trung-lộc cho tới bến đò Trung-phước, dân chúng tụ-tập bàn-tán xôn-xao. Giữa đám đông có một chiếc võng điều vừa tiến tới, phu phen phải khó nhọc lắm mới bước từng bước một, vì trăm con mắt tò-mò cũng đều muốn phanh dìm ra để xem cho biết. Họ hết sức ngạc-nhiên vì lúc mới vào Tân-tỉnh, trên chiếc võng nầy, họ đã trông thấy tán-tướng Trần-Thừa nằm bình-tỉnh xem sách. Bây-giờ họ cũng gặp lại vị tướng-lãnh ấy với một cái đầu đã rời hẳn thân xác. Nhìn nhau một cách lặng-lẽ, họ nói thầm với nhau vì sợ bọn thám-tử nghe được:

- Nồi da xáo thịt!