Bọn "phường"


Ngày nay bọn "phường" không còn kéo nhau đi lang-thang trên khắp các nẻo đường thôn quê. Họ là những người ăn-mày rất đặc-biệt, những kẻ giàu-sang, phúc-pháp, ranh-mảnh, khôn-ngoan. Bọn "phường quí-phái", mỗi năm chỉ bén-mảng một hai lần về miền sơn-cước, rồi lại biến mất như loại thơm hàng niên hay như khách không mời trong một ngày kỵ-giỗ. Thuở trước tổ-tiên của họ còn nghèo-khó, phải ăn-mày ăn-mót, phải ngủ đình ngủ quán nhưng về sau, nhờ trời ngó lại, họ đã chiu-chắt từng đồng, từng hột gạo, đã lập-gia khỉ-nghiệp và nghiễm-nhiên trở thành những bậc phú-hữu. Vì vậy một vài ngày trước khi cúng quảy ông bà, họ lại mang bầu xách gậy đi khắp các miền thôn-quê hẻo-lánh để ăn xin cho lấy lệ và để kiếm một ít phẫm-vật về đặt lên hương-án. Những lúc khác, họ cũng đi làm đi lụng cực-nhọc, cũng ươm tơ dệt vải, trồng dâu nuôi tằm, cũng tạo nên tòa-ngang dãy-dọc, cũng có ruộng sâu ao cả, lúa vựa trâu bầy như đa-số dân-chúng ở trong thôn-dã.

Bọn "phường bình-dân" quanh năm suốt tháng vẫn thấy xuất-hiện trên các nẻo đường. Họ sống về nghề hành-khất, không có gia-cư nhất-định, nhưng lại không ăn-mặc bê-tha rách-rưới, không bao-giờ nhận những món bố-thí quá hèn-mọn như những bạn đồng-nghiệp khác.

Bọn phường không bao-giờ vào ăn xin những gia-đình nghèo-túng hay bén-mảng đến ngưỡng-cửa một vị quan-lại thanh-khiết, một vị khoa-bảng phước-đức, hiền-từ. Họ cũng có lòng vị-tha, có tính tự-trọng. Mỗi khi buớc qua chiếc ngõ vôi của một ông nghè, ông cống, một cụ án, cụ tuần, họ không khỏi có những mối đắn-đo, suy-tính. Khi nào tới địa-đầu một làng xa-lạ, họ ngó trước ngó sau, tìm-tòi một vài đứa chăn-trâu để dò-la tin-tức, điều-tra cho thật kỹ-càng rồi mới chia nhau thành từng đoàn, kẻ phụ-trách gia-đình một ông cữu, một ông chánh, một ông phó; người đi vào gõ cửa một ông lý, một ông hương. Cái gì làm cho họ phấn-khởi hay có thể kích-thích lòng khát-vọng của họ là cái tam-quan chói-lọi của một viên bá-hộ, một phần bị che lấp ở nơi xa bởi một chòm lá dừa sum-sê, bởi trăm ngàn chiếc bông bụt. Tức thì họ băng đồng vượt suối để tiến tới, chắc-chắn về kết-quả việc làm của mình. Thuở bây giờ, viên bá-hộ còn là ngôi sao sáng nhất, còn là vị cứu-tinh của nhiều người trong thôn làng. Cái biệt-thự của một viên bá-hộ, kiến-trúc theo lối xưa, là cả một cái thế-giới bao-la bên trong nhiều lớp tường vôi, tường đá, y hệt như thành-quách của một vị phiên-chúa. Lúc bình-thường, nơi đây người nông-dân có thể tìm thấy một cái công-trường rộng-rãi để làm việc cho thỏa-thuê cuối ngày lãnh quan-tiền bát gạo về nuôi-nấng vợ con, xây-dựng hạnh-phúc cho gia-đình của mình. Lúc sa-cơ thất-thế, những năm mất mùa, hạn-hán, thiên-tai hoặc bị giặc-gĩa phá-phách, họ có thể tìm thấy nơi đây một cái kho-tàng, một cái vựa lúa phong-phú để vượt cho qua một cơn đói hiểm-nghèo. Các viên bá-hộ phần đông cũng là người hiền-hòa, tử-tế chứ không phải là gian-tham, hiểm-độc. Giữa các vị địa-chủ nắm gần hết quyền sở-hữu đất-đai trong một vùng, một hạt, thâu tô, nộp thuế và những vị tá-điền, đến mùa gặt vác đòn xóc đi gánh lúa về cho chủ-nhân của mình, sắp thành từng hàng rất xinh-đẹp trên những bờ đê quanh-co, nhỏ-hẹp, bao-giờ cũng có một sự thông-cảm, một sự liên-hệ chặc-chẽ, nếu không phải là một tình-cảm chân-thành giữa những người đồng-loại. Vì vậy, mỗi khi nhà của một viên bá-hộ bị bọn trộm-cướp phá-phách, người ta chỉ cần thổi một nhịp còi, gióng một hồi thanh-la, đánh một loạt trống, tức-khắc láng-giềng từ bốn hướng, không luận già trẻ, đàn ông hay đàn bà, đều kéo tới thật đông-đủ, rựa, gậy, giáo, mác nắm sẵn trên tay, liều chết mà cứu-hộ.

Bọn phường không bao giờ sống riêng-rẻ, cô-độc. Cái bản-năng quần-tụ của họ, nhờ huyết-thống, nhờ tập-tục, đã phát-triển tới cao độ. Dù là ngủ dưới gốc một cây si cổ-thụ trong mùa viêm-nhiệt, hay chen-chúc lẫn nhau trong một ngôi chùa hoang-phế vào tiết đông thiên lạnh-lẽo, họ vẫn luôn luôn đoàn-kết với nhau. Họ dắt bà dắt con, quảy bầu quảy thúng đi thành nhiều nhóm riêng-biệt, hẹn gặp nhau vào một chỗ nhất-định như tại cái ng, cái điếm ở chỗ ngả ba, cây xoài cây cốc ở bên đường. Một khi tề-tựu đông-đủ, họ mới kéo nhau đi vào một nhà phú-hữu. Ở đây sẵn có ngôi nhà lẫm, sân gạch rộng-rãi, họ quăng bị gậy xuống và cứ ngồi lầm-lì không nói không rằng, y hệt như một đoàn xin xâu trước mặt một viên công-sứ. Mỗi khi trông thấy bọn phường kéo đến đông-đảo như vậy, khổ chủ lấy làm ái-ngại vô-cùng, tự coi như mình đương phải mắc một cái tai-vạ, một cái nghiệp-báo khó xử. Lúc bấy giờ có chi thì cho nấy, người ta phải lo nạy rương-xe, mở giường-hòm, phải xúc gạo, xúc thóc, lấy tiền lấy bạc ra phung-phí một hồi, chẳng khác chi tục lệ phát bánh phát trái cho cô-hồn sau lễ cúng âm-hồn. Nếu chẳng may trong đám gia-chủ có một người vô-ý tung ra một vài lời khiếm-nhã hoặc một cô tiểu-thư xinh-đẹp, lá-ngọc cành-vàng ở miền thôn-dã chạy ra trong giây-lát, ném vào cái bị một oảng xôi, một đòn bánh rồi ngoay-ngoảy ra đi, họ cũng chỉ ngồi lầm-lì, chẳng nói chẳng rằng, cho đến trưa-ngày tối-buổi. Họ tuyệt-nhiên không hề biết phản-đối. Họ chỉ theo một đường-lối duy-nhất là bất-bạo-động, cho đến khi đối-phương phải đầu-hàng và những bạn đồng-nghiệp đã được thỏa-mãn một cách hoàn-toàn, chắc-chắn. Lúc bây-giờ họ mới bằng-lòng đứng dậy, rập-ràng, mau lẹ quay gót lên đường.

Bọn phường cũng có ký-ức bền-bỉ, phong-phú. Họ có thể nhớ rõ-ràng tất-cả những ngày kỵ, giỗ của từng gia-đình một, từ những làng hẻo-lánh ở trong miền sơn-cước cho đến những làng xa-xôi nhất ở trên miền duyên-hải. Bữa nay họ chuẩn-bị đi về những vùng Đại-áp, Đại-an thì ngày mai họ lại đi ngược về làng Nhoăn, làng Tí, làng Sé, làng Nhơn-trạch, làng Dùi-chiêng. Họ có thể nhớ rành-mạch tất-cả những chi-tiết, thấy lại một cách minh-bạch những lối ăn-nói, lối cư-xử của từng gia-đình, từng cá-nhân mà không cần phải có sổ tay để ghi-chép. Vì vậy gia-chủ không lấy làm lạ, khi vừa mới đặt mâm cỗ lên trên bàn thờ tổ-tiên, là bọn hành-khất đã kéo tới, đứng chật ở ngoài sân với bao nhiêu cặp mắt chứa đầy những sự bí-mật cũng như những điều khát-vọng.

Bọn"phường" cũng có chánh-quán và trú-quán như hầu-hết mọi người công-dân trong một nước. Mỗi khi có đám tuần, đám chay ở một thôn-xóm hẻo-lánh, họ mang bị gậy tới ăn-xin, gặp chủ nhà chất-vấn một cách nghiêm-trang:

- Anh ở đâu mà lên đây?

Tức-khắc họ trả-lời vắn-tắt, cụt ngủn: Chúng tôi ở dưới Rù-rì, ở xóm Bù-toa.

Ở trong chốn thâm-sơn cùng-cốc, không có ai biết đích-xác họ ở tại làng nào, ở xứ nào, nhưng tất-cả mọi người đều tin chắc-chắn rằng, cái làng bí-hiểm mà họ vừa mới xưng-hô lên vẫn có thể nằm trong một vùng nầy hay vùng khác.

Trong những năm chính-biến, từ Ất-dậu cho tới Bính-tuất, giặc-gĩa đương hoành-hành dữ-dội, bọn "phường" phải tạm nghỉ hoạt-động một thời-gian. Nhưng đến mùa xuân năm Đinh-hợi, tức là năm 1887, họ xuất-hiện trở lại, lần nầy phức-tạp, đông-đảo hơn. Họ kéo nhau lên trên nguồn, phân-tán đi nhiều ngả, nhà nào họ cũng vào, đình-chùa nào họ cũng ngủ, hang cùng ngỏ hẽm nào họ cũng chui rúc, cơ-quan bí-mật nào họ cũng dòm cũng ngó, rầy-rà khó chịu như những loài bò-chét ở trong sa-mạc. Gặp ai qua đường họ cũng chận lại để xin một miếng trầu, thết một điếu thuốc, khơi-mào một vài câu chuyện. Thấy dân-chúng đương vun khoai, làm cỏ trong cánh đồng, họ lân-la chạy tới để làm quen, dừng lại để hát năm ba câu hò khoang, chêm vào một vài câu bông-đùa, dò dò hỏi hỏi lung tung. Có đôi khi rong-rủi khắp nơi, họ trèo lên tới núi Chóp-chài, núi Cao-ngạn ở hạt Thăng-bình để dò-xét những hầm đúc kim-khí, những xưởng chế đạn-dược. Họ đã khéo thay hình đổi dạng và đã khám-phá ra nhiều trại chứa vật-liệu, nhiều kho trữ lương-thực. Cũng có đôi khi họ theo con đường công-hương dựa theo chân núi, từ chợ Vinh-huy cho đến những làng Đức-an, làng Phụng-sơn để thăm viếng những tin-đồ công-giáo bị giam lỏng trong những ngôi nhà tranh thâm-thấp, bao-bọc bởi những bức tường trét bằng đất sét. Họ đem lại cho những người bị giam cầm một niềm an-ủi, một lời hứa-hẹn: "Chẳng bao lâu nữa, Nghĩa-hội sẽ bị thất-bại". Lính Đoàn-kiết thấy họ có vẻ khả-nghi, liền bắt lại để xét hỏi, sau khi bị tra-tấn, họ mới chịu khai ra sự thật. Họ đã lỡ dại bị bọn thám-tử mua-chuộc và tổ-chức lên vùng sơn-cước để điều-tra thực-lực của Nghĩa-hội. Họ đã nhận tiền của tên Hồ Pháp, một người không biết rõ từ phương nào mới đến, nhưng nghe nói là đặc-phái-viên của tiểu-phủ-sứ Nguyễn-Thân ở Quảng-nam. Trước tình-thế ấy, phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu phải lo phân-tán cơ-quan.