Anh-hùng mạt-lộ


Mặt trời chỉ còn một đòn gánh, tỏa những tia sáng vàng-võ trên làng An-tráng, một làng sơn-cước ở về phía tây phủ Tam-kỳ. Trong căn nhà rường tám cột lợp ngói âm-dương, cử-nhơn Phạm-đạo-Mẫn đương ngồi tịnh-dưỡng trên ghế trường-kỷ, mình ngả lơi lơi về phía sau, hai chân xếp bằng. Vừa mới đi câu cá vọp ở ngoài suối Đôi, cá không bắt mồi, ông lủi-thủi ra về. Bây giờ ngồi rảnh-rổi, ông để mặc cho tâm-hồn trôi chảy theo giòng thời-gian . Trong sự im-lặng triền-miên của buổi chiều, văng vẳng những tiếng vó ngựa mỗi lúc mỗi gần thêm, lốc cốc, lốc cốc…

Lắng nghe một hồi lâu, một khi tiếng ngựa đã hí vang ở ngoài cánh đồng, ông  xỏ chân vào đôi hài, đứng dậy ra mở cánh cửa bàn-khoa và nhìn tứ phía. Giây lát, một người khách rất quen thuộc hiện ra dưới mái hiên khiến bầy chó săn trung-thành đổ xô ra sủa vang trời dậy đất.

Người khách choàng sợi dây cương năm bảy vòng vào gốc dâu bầu ở góc sân, rồi thong-thả bước lên mấy bậc tam-cấp, nhìn chủ-nhân mà nói:

-Tôi để những người tùy-tùng ở bên kia ngoẹo Giàn-xay vì thấy trời đã gần tối. May quá không thì phải ngủ ở giữa rừng với những con chim dạo-đàng trông thấy là phải sợ! Bây giờ thì hãy cho cơm ăn mau lên! Tôi đi suốt một ngày không có hạt cơm nào trong bụng!

Người khách nói xong nằm duỗi mình trên bộ phản ngựa thở hổn-hển. Một chặp lâu  sức khỏe dần dần trở lại, y mới ngồi chồm lên, thì-thầm vào tai chủ-nhân mấy tiếng:

-Nha sơn-phòng đã thất-thủ!

Hình như không hiểu rỏ nguyên-nhân, cử-nhơn Phạm-đạo-Mẫn cau mày hỏi một cách nôn-nóng:

- Vì sao?

Người khách trả-lời:

- Vì Tây lên tấn-tiêu!

Câu trả-lời nhát-gừng nầy không làm cho cử-nhơn Phạm-đạo-Mẫn vừa lòng. Ông ngồi xít lại gần hơn một tí nữa mà nói như có ý muốn trách-móc:

- Mình không kháng-cự? 

Người khách bực-tức vì lối chất-vấn oái-oăm ấy, trả-lời ngắn-gọn:

- Kháng-cự thế nào được ?

Rồi y ngồi thừ ra, hai con mắt nhìn đăm-đăm về một phía như cố-ý hồi-tưởng lại một điều gì quan-trọng. Suy-nghĩ xong, y nhìn thẳng vào mặt chủ-nhân kể-lể:

- Tây kéo lên đông lắm, lô-nhô lúc-nhúc trên các nẻo đường. Họ có súng ống tối-tân, còn mình chỉ có gươm-giáo! Địch làm sao nỗi với giặc! Tôi đã ra lệnh cho binh-sĩ giải-tán và một giờ sau thành-trì đã bị chiếm-đoạt.

Cử-nhơn Phạm-đạo-Mẫn hỏi lại:

- Thế bây giờ ông định đi đâu ?

Người khách trả-lời:

- Tôi cũng chưa biết. Vì vậy tôi phải ghé vào đây để tham-khảo ý-kiến.

Người khách ấy chính là quan sơn-phòng-sứ Trần-văn-Dư, vừa mới thất-trận tại Dương-yên phải bôn-tẩu.

Hai vị tân-chủ còn đương hàn-huyên to nhỏ thì người nhà đã bưng lên một bát nước súc miệng và một mâm cơm đầy mặp những thức ăn. Cử-nhơn Phạm-đạo-Mẫn vừa hạ bớt mấy chồng dĩa xuống dưới chiếu vừa mời mọc:

- Xin ông cầm đũa.

Rôi cả hai ngồi lại dùng cơm tối một cách tự-nhiên, thành-thật y hệt như hai anh em ruột trong một nhà, tiến-sĩ Trần-văn-Dư muốn lợi-dụng cơ-hội để bàn về lối xuất-xử của mình:

- Thành-trì đã tan-vỡ. Ông bảo tôi nên tấn-thối như thế nào?

Cử-nhơn Phạm-đạo-Mẫn dừng đũa suy-tính rồi nói:

- Có nhiều lối hành-động khác nhau. Một là tiếp-tục chiến-đấu, gieo mình trong vòng khói-lửa, chịu đựng tất-cả những sự hiểm-nghèo. Hai là xuất-thú, hợp-tác với giặc, tìm chổ yên thân. Ba là dốc tâm tu-hành, sống với cỏ cây, tìm lạc-thú tinh-thần. Mỗi lối đi của cuộc đời đều có những cái ưu, cái khuyết, muốn noi theo con đường nào là tùy theo cái sở-nguyện bình-sanh của mình, tôi khuyên-nhủ làm sao được!

Thấy tiến-sĩ Trần-văn-Dư vẫn còn phân-vân, cử-nhơn Phạm-đạo-Mẫn trình-bày tiếp:

- Tôi quên nói tới một lối sống thứ tư là tạm-thời nấn-ná chờ cho thời-cuộc kết-liễu. Lúc bấy giờ chúng ta phải lo tránh nanh-vuốt của nhà cầm quyền, hàng ngũ văn-thân sẽ bị tan rã, kẽ nào còn sống sót sẽ di-cư vào Bình-định Tư-nghiã và biết đâu họ sẽ không vào Đồng-nai lục-tỉnh, qua Xiêm-la, Miến-điện, vượt trùng-dương để lập sự-nghiệp y hệt như Cơ-tử ngày xưa!

Hai người bạn đồng song trò chuyệ lân-la từ canh một cho đến canh tư. Mặt trời đã sắp lên, dọi tia sáng vào những chòm cau, những ngọn mít, làm cho bầy chim hoang-dại bay về hót ríu-rít trên cành. Tiến-sĩ Trần-văn-Dư đứng dậy cáo-thối và cho biết cm-tưởng của mình:

- Có lẽ những điều nhận-xét ấy sẽ thành sự-thực.

Chưa muốn để cho người bạn của mình lên đường quá sớm, cử-nhơn Phạm-đạo-Mẫn trì chéo áo lại nói:

- Thư thả một chút!

Vớ lấy chiếc quạt Thanh còn mới tinh để ở trên chồng sách, ông sè ra nhẹ-nhàng và đưa ra ngoài ánh-sáng để xem lại bức tranh mai-hạc in sẵn giữa hai lớp lụa mỏng. Làm xong công việc ấy, ông lấy ra cây bút lông, nhúng vào trong đĩa son, xe đi xe lại đến năm bảy lần. Khi chất mực đã ăn khá nhiều, ông khom lưng xuống viết thoăn-thoắt. Lần lượt những giòng chữ nôm trong bài "Điếu Khuất-Nguyên" của nữ thi-sĩ Phạm thị Lam-Anh hiện ra mềm-mại uyển-chuyển:


Quốc nhơn giai túy như giai trọc,

Duy ngã độc tỉnh nhì độc thanh.

Trên hôn, hôn chưa tỏ dạ trung-thành,

Còn nấn ná nữa chi cho bận!

Cô-phẫn khí thành, thiên khả vấn,

Độc-tinh nhơn khứ quốc cơ không.

Giòng Mich-la dù đục đục trong trong,

Đèn bất-dạ hỡi soi người thiên-cổ.

Bát-ngát buổi gian thiên dục mộ,

Tiếng ngư ông còn đồng-vọng đâu đây.

Nghĩ thôi ai cũng xót lây.


Viết xong bên mặt, cử-nhơn Phạm đạo Mẫn dừng bút để giải-thích:

- Nữ thi-sĩ Phạm thị Lam-Anh, người ở phủ Điện-bàn, tỉnh Quảng-nam là một ngôi sao sáng nhất trong văn-đàn nước nhà vào khoảng đầu thế-kỷ thứ mười tám. Tôi xin ghi thêm ra sau đây bài "Vịnh Trương lưu Hầu" có in trong " Chiến cổ Đường-thi tập" mà tác-giả đã viết để gởi tặng cho nhà văn-sĩ Nguyễn-dưỡng-Hiền, người ở phủ Duy-xuyên:


Trương lưu-hầu là Hàn công-tử,

Dõi năm đời chung-đỉnh đai-cân.

Liều một dùi chưa trả nợ cố-quân,

Uống ba tấc phải đem mình thờ Hán chúa.

Thuốc độc phun Tờn rơi đến Sở,

Mùi thơm ngậm Hán sún cho Hàn.

Trong năm năm gầy một mối giang-san,

Trả nghĩa củ, ơn xưa đà vẹn xỏng.

Trường phú-quí xem bằng mây mỏng mỏng,

Túi Xích-tòng đỏng-đảnh với quan-san,

Nhục-vinh gác chuyện Tiêu-Hàn.


Viết xong, cử-nhơn Phạm-đạo-Mẫn đọc lại một lần, rồi xếp quạt trao cho người bạn mà nói:

- Ông quyết-tâm đi xa, tôi có giữ lại cũng không được. Trong giờ lâm-biệt tôi xin tặng một vật nhỏ mọn để làm kỹ-niệm.

Tiến-sĩ Trần-văn-Dư hỏi:

- Sao ông biết?

Cử-nhơn Phạm-đạo-Mẫn trả-lời:

-Tôi dự-đoán.

Cuối cùng hai người phải dứt-khoát chia tay. Tiến-sĩ Trần-văn-Dư phi ngựa đi một hơi về tới làng An-mỹ-đông, gọi người con gái lên mà căn-dặn:

- Ngày mai thầy phải đi kinh. Coi mượn hai tên phu võng thật lanh-lẹ và dời khăn gói qua bên xóm, rồi về ngay có việc!

Cô tiểu-thư ngoan-ngoản ra đi chưa khỏi sân, ông còn kêu với trở lại và hỏi một cách hấp-tấp:

- Hình như tháng nay nhà mình chưa cúng lộ?

Cô tiểu-thư nhướng cặp lông mày lên c nhớ lại:

- Bẫm thầy chưa!

Tiến-sĩ Trần-văn-Dư lại dặn tiếp:

- Đi mua ít hương đèn vàng bạc để cúng gà trước khi thầy lên đường.

Vừa lúc ấy bà con quen thuộc nghe nói chạy tới thăm viếng rất đông. Một người chú họ chuyên về nghề tướng-số, nhìn thấy chiếc quạt Thanh mở ra xem và nói to tiếng:

-Ồ chữ đẹp quá! Có phải là nét bút ông cử An-tráng không?

Tiến-sĩ Trần-văn-Dư đương bận lo tính việc nhà cũng phải miễn-cưỡng quay lại để trả-lời:

- Phải rồi! phi ông cử An-tráng thì ai có được lối chữ ấy.

Người chú họ đọc đi đọc lại hai bài thơ, hiểu ý, bèn chờ cho mọi người ra về hết mới  ngồi sát bên cạnh tiến-sĩ Trần-văn-Dư mà đàm-luận:

- Bao giờ ông ra kinh ?

Tiến-sĩ Trần văn Dư đáp:

- Ngày mai!

Người chú họ nói tiếp :

- Ra để xuất-thú!

Tiến-sĩ Trần văn Dư không đáp lại mà chỉ khẽ  gật đu.

Lúc bấy giờ người chú họ mới để ý xem-xét quan sơn-phòng-sứ một lần từ đầu cho tới chân, từ giọng nói sắc mặt cho tới điệu bộ cử-chỉ. Trước khi ra về ông không quên gọi cháu ra ngoài hiên mà bỏ nhỏ:

- Lần nầy phó kinh, ông nên bắt phu-trường đi một hơi cho tới Đà-nẵng và nhớ đừng ghé lại tỉnh-thành vì sẽ gặp điều bất-trắc.

Hình như sợ tiến-sĩ Trần văn Dư không lưu-ý đến phần quan-trọng trong lời khuyên-nhủ của mình, ông cứ nhắc đi nhắc lại dằn từng tiếng:

- Vào tỉnh-thành thì sẽ gặp chuyện bất-trắc nguy-hại đến bản-thân!

Cuộc đàm-thoại nầy xảy ra vào lúc chạng-vạng. Trong khi hai người đương trò chuyện thì một con cú mèo tha-phương lại bay về đậu trên cây mít ngoài sân kêu vỏn-vẹn có ba tiếng như để tỏ sự đồng-ý:

- Cu-hu! Cu-hu! Cu-hu!

Điềm lành hay điềm dữ? tiến-sĩ Trần-văn-Dư nào có lưu-ý.

Ngày mười ba tháng chạp năm 1885, ông ra tới Vĩnh-điện. Nằm trong chiếc võng điều, ông lấy tay khoát tấm dìm xanh và hỏi mấy tên phu ở đàng trước:

- Tới chỗ nào rồi h Năm?

Tên phu cáng phúc-đáp:

-Dạ bẫm tới cửa hữu!

Tiến-sĩ Trn-văn-Dư nói lẩm-nhẩm một mình:

- Tuần-vũ bây-giờ là Châu-đình-Kế một người rất quen thuộc. Ngày trước ta ngồi tế-tửu ở trường Giám hắn có lui tới để nghe giảng kinh-sách. Can chi mà lo ngại! Ta vào thăm viếng cho theo phép lịch-sự rồi luôn thể nhờ hắn bẩm về triều-đinh, công việc của ta ở kinh-đô cũng sẽ được thập phần dễ-dãi.

Tiến-sĩ Trần-văn-Dư ghé lại tỉnh thành đi thẳng vào phòng giấy quan tuần-vũ mà không cần báo trước. Châu-đình-Kế, người thâm thấp, hơi gầy, trán hẹp, mũi nhỏ, miệng tròn, hai con mắt ít linh-động, đương ngồi bệ-vệ trên một chiếc ghế mây, nói chuyện với một người Pháp bận quân-phục. Phía bên ngoài hai vị quan-chức ấy là một cái bàn nhỏ trên mặt có bày bộ trà màu nâu và cái bình điếu bằng sành nối dài bởi cái cần tre ngà uốn vòng bán-nguyệt. Bên trong, một viên thông-ngôn trẻ tuổi đứng tựa vào một tấm bình-phong bằng gỗ trắc có chạm nổi mấy chữ "Tráng Trường Thành" thiếp vàng lợt. Bên trong nữa, hai tên lính giản mặc áo dấu đứng bất-động y hệt như một cặp hạc ở trong đền thờ. Viên sĩ-quan Pháp ngồi đối-diện có vẻ ôn-hoà, trầm-tỉnh còn tuần-vũ Châu-đình-Kế lại ăn nói liến-thoắng như một tên mại-bản. Vừa mới trông thấy tiến-sĩ Trần-văn- Dư, hắn đã cất giọng mắng-nhiếc:

- Anh là quân khỉ-ngụy! Anh không theo giặc cho trọn kiếp, còn về đây làm gì?

Tiến-sĩ Trần-văn-Dư không dằn nỗi sự tức-giận cũng lớn tiếng đáp lại:

- Ừ phải! ta là quân khỉ-ngụy! Còn bọn quan-thầy của anh là gì? Vua tôi của anh là gì? Anh làm tay sai cho Pháp, anh là phường bán nước buôn dân!

Nghe nói như vậy, tuần-vũ Châu-đình-Kế liền đứng dậy đập bàn dọa-nạt:

- Thằng khốn-nạn! Mày đã lọt vào trong tay ta mà còn dám hống-hách! Mày sẽ coi lưỡi gươm sắc bén của ta!

Không làm thế nào được nữa, tiến-sĩ Trần-văn-Dư đánh liều thách-đố:

- Ta là một nhân-vật của triều-đình. Mày xúc-phạm đến thân-thể của ta, mày cũng phải tan xương nát thịt!

Hai bên còn đương cải-cọ ầm-ĩ thì chẳng may thiếu-tá Các-Đô đi dự trận ở Dương-yên cũng vừa về tới nơi. Nghe có sự huyên-náo ở công-đường, viên sĩ-quan này hấp-tấp chạy vào rồi khoanh tay đứng nhìn ngơ-ngác.

Thiếu-tá hỏi:

-Người này là ai?

Tun-vũ Châu-đinh-Kế liền chỉ thẳng vào mặt tiến-sĩ Trần-văn-Dư mà nói:

- Đây là sơn-phòng-sứ Dương-yên, vị thủ-lãnh cuả toán quân phản-nghịch vừa mới bị bắt!

Hai tiếng phản-nghich thốt ra làm cho thiếu-tá Các-Đô phải đổ quu. Tức-khắc viên sĩ-quan này mở cái ví da cầm sẳn ở trên tay, rút ra một tờ giấy trắng, viết nguệch-ngoạc năm ba giòng chữ rồi đưa lại cho tuần-vũ Châu-đình-Kế và nói với giọng cương-quyết:

- Phải thi-hành ngay trong nửa tiếng đồng-hồ!

Liền khi ấy người ta điệu tiến-sĩ Trần-văn-Dư ra ngoài cửa Tiền. Dân-chúng những vùng lân-cận hay tin, chạy lại xem rất đông, nhưng ai nấy cũng đều sợ hãi, không dám nói một lời.

Trước giờ lâm-chung, quan sơn-phòng-sứ xin mở trói, hướng về phía bắc lạy bốn cái để tạ ơn nhà vua, hướng về phía nam lạy bốn cái để đền công-lao cha mẹ, xong rồi mới xin bút mực để viết bài cm-thuật. Ngồi mãi mà vẫn không tìm ra lời, ông sực nhớ khi còn làm tri-phủ Nam-sách Hải-dương, một vị tướng Trung-hoa có xem diện-mạo của ông và phán-đoán mấy lời như sau: "Ngài có tướng ngũ-lộ, đỗ rất cao, làm quan lớn, nhưng về sau phải chết vì gươm đao”. Ông nghe nói không tin mà chỉ cười ruồi. Bây giờ ông mới biết lời nhận-xét ấy là đúng. Liền tay ông hạ bút viết bốn câu thơ tứ-tuyệt để làm di-tích:


Thiên sanh ngô mạng diệt k-kỳ, (*)

Trung-hoa thuật-giả bất ngô khi.

Hà-đông tiến-sĩ đa hoành-tử,

Học-giả tương-lai mạc vọng-kỳ.


Một giờ sau khi hành-quyết, tuần-vũ Châu-đình-Kế mới nhận được tờ chỉ của vua Đồng-Khánh truyền đem quan sơn-phòng-sứ Trần-văn-Dư ra kinh-đô. Viên tuần-vũ cầm mệnh-lệnh của nhà vua vân-vê trong tay nửa mừng nửa sợ.

*************

(*) 

 Bấm vào đây để đọc bài  "Tiến-sĩ Trần văn Dư và bài thơ tuyệt-mệnh" do Trúc Đình sưu-tầm và biên-soạn trong phần "giao-lưu"