Ấm-sanh Phạm phú Đường 

và tú-tài Huỳnh Qùi


Đức Chánh-Mông, con thứ ba Kiến-thái-Vương được tấn-tôn ngày mười chín tháng chín năm 1875 tại điện Thái-hòa, lấy niên hiệu là Đồng-Khánh.

Kiến-thái-vương, em ruột vua Tự-Đức, còn hai người con nữa là Kiến-Phúc và Hàm-Nghi. Kiến-Phúc bị Nguyễn văn Tường ép phải uống thuốc độc mà chết; còn vua Hàm-Nghi, sau ngày kinh-đô thất-thủ, phải xuất-bôn ra Tân-sở, sống lưu-lạc giang-hồ. Thời bấy giờ dân chúng bắt đầu truyền-tụng hai câu sấm Trạng-Trình:


Một nhà sinh đặng ba vua,

Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài.


Vào thượng-tuần tháng giêng năm 1886, vua Đồng khánh cho mời nhà chí-sĩ Nguyễn lộ-Trạch, người làng Kế-môn, tỉnh thừa-thiên vào tiền-điện mà tham-vấn:

-Càng ngày người Pháp càng hoành-hành, áp-bức chính-phủ Nam-triều.Ta phải làm thế nào để hạn-chế sự xâm-lấn của bọn Tây-di ấy?

Nguyễn-lộ-Trạch suy-nghĩ một hồi lâu mới trả-lời:

- Sống nơi thôn-dã, hạ-thần không dám đề-cập tới những chuyện quốc-gia đại-sự. Gần đây hạ-thần nghe tin ấm-sanh Phạm-phú-Đường, thứ nam của tiến-sĩ Phạm-phú-Thứ đã rời Hương-cảng trở về nước. Nhà cách-mạng trẻ tuổi ấy thỉ-chung vẫn có tấm lòng nhiệt-thành đối với tổ-quốc, mà lại được xuất-dương du-học, tai nghe xa, mắt thấy rộng, xin bệ-hạ cho gọi về kinh-thành để hỏi ý-kiến thì chắc-chắn Bệ-hạ sẽ được thỏa-mãn.

Những điều phát-giác ấy làm cho vua Đồng-Khánh ngạc-nhiên vô cùng.

- Tại sao đình-thần từ thượng-thư Nguyễn-Thuật cho đến tế-tửu Khiếu-năng-Tịnh không có ai hiểu rỏ việc ấy?

Nguyễn-lộ-Trạch biết rằng câu hỏi nầy không thuộc về phạm-vi giải-quyết của mình, nhưng cũng phải tìm lời phúc-đáp:

- Ấm-sanh Phạm-phú-Đường tinh-thâm nho học nhưng lại chịu ảnh-hưởng của phái canh-tân. Khi còn ở nhà, ông đã xem những bản điều-trần của Nguyễn-trường-Tộ và tập Tây-hành nhật-ký của phụ-thân là tiến-sĩ Phạm-phú-Thứ. Nhờ có hoàn-cảnh thuận-tiện trong gia-đình, ông đã sớm giác-ngộ về phương-pháp lãnh-đạo quần-chúng và đường-lối canh-tân đất nước. Ông thường lui tới thành-phố Hội-an để giao-thiệp với mấy nhà cự-thương Trung-hoa, rồi một hôm ông bí-mật từ-giã quê-hương, lên một chiếc ghe mành để sang Hương-cảng học Anh-ngữ. Ông ra đi biệt-tăm biệt-tích đã bảy năm, gần đây mới nghe tin ông trở về cố-quốc. Hạ-thần thiết-tưởng vì lề-lối sinh-hoạt, vì xu-hướng chính-trị, một nhà học-giả uyên-thâm không có thể tiếp-xúc với mấy vị trọng-thần trong nước và không tìm ra một mãnh đất thích-hợp để thi-thố tài-năng lỗi-lạc của mình.

Nghe trình-bày xong, vua Đồng-Khánh hỏi :

- Khanh có thể mời nhà cách-mạng ấy ra Huế để Trm nói chuyện được không?

Nguyễn-lộ-Trạch trả-lời câu cuối cùng như để kết-luận :

- Hạ-thần không dám từ-nan, nhưng muốn cho mau chóng hơn, xin Bệ-hạ gởi mật-chỉ vào Quảng-nam thì tức-khắc ấm-sanh Phạm-phú-Đường sẽ về triều bệ-kiến.

Vua Đồng-Khánh bằng lòng và hai người phải tạm-biệt.

Một tuần lễ sau, ấm-sanh Phạm-phú-Đường ra Huế, được nhà vua đón tiếp trọng-thể tại cung Càn-thành. Thượng-thư Hồ-Lê và tế-tựu Khiếu-năng-Tịnh có tới dự cuộc tiếp-tân nầy.

Sau một vài câu xã-giao khách-sáo theo thường-lệ, vua Đồng-Khánh đi ngay vào trọng-tâm vấn-đề:

- Hiện nay người Pháp đã chiếm-cứ miền lục-tỉnh, đặt nền đô-hộ tại Trung-việt và Bắc-việt. Trẫm chỉ sợ với chính-sách tầm-thực mỗi ngày mỗi tăng tiến ấy, rồi đây không những họ sẽ giành hết chủ-quyền trên lãnh-thổ Việt-nam, mà còn làm cho triều-đình phải thất-điên bát-đảo nữa. Trẫm nghe nói khanh ở ngoại-quốc mới về, Trẫm mừng rỡ khôn xiết. Vì vậy Trẫm cho mời khanh ra đây để luận-bàn thời-cuộc và xem thử khanh có ý-kiến gì hay có thể cứu-vãn được tình-thế hay không?

Ấm-sanh Phạm-phú-Đường đứng dậy trả-lời:

- Theo chỗ hạ-thần trộm nghĩ bây giờ tình-thế đã muộn-màng lắm rồi. Bệ-hạ nên tìm cách chia-xẻ bớt thế-lực của người Pháp thì hơn.

Vua Đồng-Khánh gật đầu và hỏi lại:

- Ta phải làm thế nào để hạn-chế ảnh-hưởng của người Pháp?

Ấm-sanh Phạm-phú-Đường nhíu cặp lông mày như để hồi-tưởng một việc gì, rồi mới từ-từ trình-bày :

- Các nước Âu-Mỹ đã dòm ngó nội-bộ Việt-nam từ lâu, nhưng họ chưa tìm ra cơ-hội để can-thiệp. Muốn kiềm-hãm bớt sức bành-trướng của người Pháp, Bệ-hạ phải nhờ đến bàn tay ngoại-quốc. Bây-giờ Triều-đình đã ký hiệp-uớc nhượng quyền ngoại-giao cho Pháp-quốc rồi, việc tiếp-xúc với Tây-phương không còn dễ-dàng như trước nữa. Muốn vượt qua sự khó-khăn ấy, Bệ-hạ nên tìm cách giao-thiệp bí-mật với nước Huê-kỳ và Anh-cát-lợi. Bệ-hạ phải hứa nhượng cho họ một ít quyền-lợi về chính-trị và kinh-tế. Một khi ngoại-bang đã đặt chân lên lãnh-thổ Việt-nam, Bệ-hạ sẽ lợi-dụng uy-thế của nước này để kiềm-chế sự xâm-lấn của nước kia. Nhờ có sự tranh-chấp ngấm-ngầm giữa các dân-tộc Âu-Mỹ với nhau, Bệ-hạ sẽ tìm được sự quân-bình có thể giúp cho triều-đình tồn-tại và phát-huy ảnh-hưởng trên chính-trường quốc-tế.

Vua Đồng-Khánh ngồi nghe chăm-chú những điều trần-thuyết ấy, gật đầu và hỏi thêm:

-Khanh có tin rằng những biện-pháp ấy sẽ giúp cho Trẫm thành-công hay không?

Ấm-sanh Phạm-phú-Đường suy-nghĩ một chặp rồi mới chịu nói tiếp :

- Hạ-thần đã tâu với Thánh-thượng rằng tình-thế bây giờ đã trở nên hết sức khó-khăn. Nhưng dầu sao đi nữa, Bệ-hạ cũng nên cố-gắng một lần cuối cùng vì trể còn hơn không.

Vua Đồng-Khánh gật đầu cho câu trả-lời ấy là chí-lý, đứng dậy tiến về phía người khách và nói rất khẽ:

- Khanh có thể vì Trẫm đi công-cán một phen sang Hương-quốc để mưu-cầu việc ấy không?

Nghe mệnh-lệnh nhà vua, ấm-sanh Phạm-phú-Đường có vẻ bối-rối trong giây lát, nhưng sau đó trấn-tỉnh được ngay:

-Hạ-thần tự xét mình còn trẻ tuổi, tài-sơ đức-bạc, nhưng Bệ-hạ đã tín-nhiệm, hạ-thần nguyện đem hết sức bình-sinh ra thi-hành phận-sự để mong báo-đền ơn tri-ngộ.

Vua Đồng-Khánh liền cho gọi quan tham-tri nội-các vào để thảo ủy-nhiệm-thư, rồi cầm tất cả giấy tờ vàng bạc trao cho vị tân khâm-sai mà dặn-dò hết sức cẩn-thận:

- Khanh nhớ không nên tiết-lộ việc ấy với bất cứ người nào hết, dầu là thân-tín ruột-rà cũng vậy.

Ấm-sanh Phạm-phú-Đường lạy tạ nhà vua xong quay gót ra về. Thượng-thư Hồ-Lệ và tế-tửu Khiếu-năng-Tịnh cùng đi một lượt. Ba người còn đương đứng ngoài điện Cần-chánh thì có tên lính thị-vệ chạy ra nói một cách hấp-tấp: 

- Hoàng-thượng xin mời quan lớn vào chánh-điện!

Ấm-sanh Phạm-phú-Đường đi trở lại, vừa bước lên bậc tam-cấp đã trông thấy nhà vua tiến về phía mình, gót hài lê nhẹ-nhàng trên mấy viên đá cẫm-thạch:

- À! Trẫm quên một việc. Khanh về Quảng-nam nên tìm cách liên-lạc với phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu và bảo hắn ra đầu-thú. Trẫm sẽ bảo-vệ tính-mạng và cho hắn được phục-hồi nguyên-chức.

Ấm-sanh Phạm-phú-Đường không dám trả-lời. Nhà vua phải nhắc đi nhắc lại, dằn từng tiếng:

- Đó chẳng qua là nhất-cử lưỡng-tiện, có thể gặp thì nói, còn không thì thôi!

Căn-dặn xong xuôi, vua Đồng-Khánh lui bước trở vào tư-thất.

Ấm-sanh Phạm-phú-Đường đi thẳng về nhà trọ, thu-xếp hành-lý rồi khỉ-hành tức-khắc. Nằm suốt một tuần-lễ trong chiếc võng điều, ông cảm thấy mệt-mỏi và suy-nghĩ vẩn-vơ. Có lúc nhìn chiếc mai cáng uốn hình bán-nguyệt ở trên đầu, ông liên-tưởng đến một dải ngân-hà với muôn ngàn vì tinh-tú. Có lúc nhìn chiếc đòn tre nhẹ-nhõm bám chặt trên vai mấy tên lính trạm, ông lại nhớ đến chuyện ả Chức chàng Ngưu trong thời-kỳ tiền-sử và thầm nghĩ: "Chỉ thiếu mấy con chim ô-thước là ta có một bức tranh tuyệt-diệu". Chính trong lúc ông còn đương mê-mẩn thì từ xa vọng lại mấy tiếng kêu văng-vẳng: "Cu-a! Cu-a!". Ông vén tấm dìm xanh, nhìn ra bên ngoài. Thoạt tiên ông thấy một giòng nước lũ mênh-mông cuồn cuộn chảy ra bể giữa hai làn phù-sa luôn luôn chuyển-động; ông lại để ý tới mấy chiếc ghe bầu buồm căng trong gió đương nhẹ-nhàng lướt sóng; xa hơn là mấy bùng dâu, mấy nà bắp xanh mơn-mởn trên những cánh đồng yên lắng: một bức tranh rất quen thuộc bày ra trước mắt giúp ông ý-thức được vị-trí của mình trong giờ phút hiện tại. Ông thở ra khoan-khoái:

- Tới rồi ! Đây là con sông Thu-bồn! Đây là bến đò chợ-Củi!

Liền khi ấy hai người bạn học vắng mặt từ lâu, một người là Học Ý ở huyện Hà-đông, một người là Tú Qùy ở phủ Duy-xuyên, từ phía sau cố rượt theo chiếc võng kêu thật to:

- Đại-kha! Đại-kha!

Ấm-sanh Phạm-phú-Đường bảo mấy tên lính trạm dừng lại, bước xuống chờ cho hai người bạn học tới cạnh mình, mới khẽ hỏi:

- Hai chú đi tìm ý thơ?

- Không! tú-tài Huỳnh-Quì trả-lời, hai tớ xuống vạn Bàn-thạch, thấy đại-kha vén dìm biết là cố-nhân nên phải cho thuyền cập bến!

Ấm-sanh Phạm phú Đường hỏi tiếp:

- Hai chú đi chơi rong hay có việc gì?

Học-Ý thôi nhìn mây nước, phá sự im-lặng, nói oang-oang:

- Đi tìm thịt nướng để nhấm rượu! Đại kha có muốn nhập cuộc thì hãy dẹp ngay võng-lọng và chuẩn-bị lên thuyền! Một chốc nữa hai tớ sẽ xuôi về miền bể!

Ấm-sanh Phạm-phú-Đưòng hỏi tiếp:

- Hai chú đi tìm thịt cầy?

Tú-tài Huỳnh-Quì vội-vàng trả lời:

- Thịt gì hai tớ cũng xài được! thịt cá ở dưới nước, thịt chim ở trên trời, cho chí thịt dã-thú ở trên rừng, thịt người ở chốn hang cùng ngỏ hẽm!

Nói xong Tú-Qùi phá lên cười.

Ấm-sanh Phạm-phú-Đường đưa tay ra dấu:

- Nói khẽ đấy chứ!

Tú-tài Huỳnh-Quì lại phá lên cười rang-rảng:

- Việc gì mà phải e-ngại! Đại-kha có sợ tai-tiếng thì vào ghe cắm ở dưới bến mà trò-chuyện cho tự-do hơn!

Một lát sau, họ đã ngồi xếp bằng trong mạn thuyền, nhìn mấy khúc gỗ trôi bềnh-bồng trên mặt nước. Tú-tài Huỳnh-Quì quay về phía người bạn học và hỏi :

- Đại-kha ở Huế vào?

- Tại sao chú biết?

- Vì nghe mấy tên lính trạm nói giọng trọ-trẹ!

 Tú-tài Huỳnh-Qùi hỏi tiếp:

- Đại-kha ra kinh-đô làm gì? Nói lại cho hai tớ rõ với, ở trong xứ Quảng nầy chỉ có loạn-lạc và thanh-toán lẫn nhau, buồn nhức xương!

Ấm-sanh Phạm-phú-Đường giả-vờ không nghe những câu chất-vấn ấy, cứ điềm-nhiên ngồi theo dõi mấy khúc gỗ lạc-loài đã bị nước lũ lôi cuốn về tận nơi chân trời xa tít. Tú-tài Huỳnh-Quì phải thúc-giục đến năm bảy lần, cuối cùng ấm-sanh Phạm-phú-Đường mới chịu giải-thích:

- Hai chú phải giữ bi-mật tôi mới dám trình-bày!

Rồi thong-thả, ấm-sanh Phạm-phú-Đường thuật lại rành-mạch những việc xảy ra từ khi nhận được mật-chỉ của triều-đình, những lời huấn-dụ của nhà vua tại điện Cần-chánh và những nỗi thắc-mắc của mình.

Tú-tài Huỳnh-Quì chờ cho người bạn học dứt câu chuyện, mới rung đùi cười khanh-khách:

- Rành là những chuyện trẻ con! Thôi hãy tạm gác những chuyện chính-trị lại một bên. Bây giờ đại-kha nên cùng hai tớ xuôi ghe về Bàn-thạch mà nhậu nhẹt một bữa cho say túy-lúy, rồi qua Hội-an, tìm cách xuất ngoại và ở luôn bên ấy cho xong kiếp, còn cứ lởn vởn ở tại quê nhà thì chắc-chắn không thể bảo-toàn tính-mệnh.

Nghe nói xong, Phạm-phú-Đường cau mặt ra vẻ bực-bội:

- Tại sao chú lại bi-quan đến thế! Tôi còn phải nấn-ná ở lại quê-nhà ít nữa vài ba tháng để giải-quyết cho xong hai công việc mà Hoàng-thượng đã giao-phó, rồi về sau, có ra sao thì ra. Dầu sao đi nữa, tôi ở ngoại-quốc mới hồi-hương, không hiểu rõ tình-thế ở điạ-phương, chú cũng nên sơ-lược cho tôi được hiểu.

Tú-tài Huỳnh-Quì thể theo lời người bạn nói tiếp:

- Hiện nay trong tỉnh nhà có hai phe đối-lập với nhau, một bên là triều-đình, là người Pháp, còn bên kia là văn-thân, là Nghĩa-hội. Cả hai phe đều có quân-đội, có tiền-bạc, có thủ-hạ để bày mưu lập kế mà sát-hại lẫn nhau, chỉ có những hạng người đứng ở cửa giữa là phải bị cảnh đu rơi máu chảy.

- Trong trường-hợp ầy, chú liệu đứng về phe nào?

Tú-tài Huỳnh-Quì suy-nghĩ giây lát rồi trả-lời với một giọng vừa lạnh-lùng vừa thản-nhiên:

- Đứng về phe nào cũng không thuận-tiện. Theo triều-đình, theo vua Đồng-Khánh thì lại không theo đúng chính-nghĩa, con người ở vùng Ngũ-hành-sơn không có thể nào mang tổ-quốc lên trên gót giày. Còn theo Nghĩa-hội thì không những đắc-tội mà thôi, lại không thể tìm ra lối-thoát.

Bây giờ Phạm-phú-Đường mới tỏ vẻ ngạc-nhiên:

- Theo Nghĩa-hội là theo vua Hàm-Nghi, là chống lại người Pháp, lại làm đúng với nguyện-vọng của nhân-dân, tại sao chú lại nói tới công với tội.

Huỳnh-Qùi nhanh-nhẹn trả-lời:

- Được phụng-sự cho nhân-dân, cho tổ-quốc thì còn phải bàn làm chi! Ở trong Nghĩa-hội cũng có một số người tâm-huyết, nhất là những vị lãnh-tụ như phó-bảng Nguyễn-duy-Hiệu, như ấm-sanh Nguyễn-Thành. Đó là những người sống vì lý-tưởng, trung-quân ái-quốc. Nhưng các bậc lãnh-đạo trung-kiên ấy thì có rất ít, một tỉnh được năm ba người là nhiều lắm. Ngoài ra, đa số trong hàng-ngũ Cần-vương là những hạng kiệt-thân, võ-biền. Những người vừa mới hôm qua còn bị liệt vào hạng du-thủ du-thực, còn bị gát ra ngoài lề xã-hội, bữa nay nhờ có hoàn-cảnh đổi thay, họ đã nhảy ra múa máy, tự phong cho mình những tước-vi thật to lớn, rồi tha-hồ mà bóc-lột, mà sát-hại dân-chúng. Người dưới đã làm bậy, người trên lại không có đủ uy-quyền để ngăn cản, cho nên dần dần Nghĩa-hội phải tiến vào con đường bí-hiểm.

Rồi Huỳnh-Quì rung đùi mà ngâm bài "Vịnh hát bội" mình vừa sáng-tác. Vừa ngâm-nga, vừa nhấn mạnh vào hai câu phá, câu thừa như muốn cho người bạn có thể trông thấy cái nạn xôi-thịt trong xã-hội:


Nhỏ mà không học, lớn làm ngang,

Trống đánh ba hồi đã thấy quan.

Ra rạp đứng trên ba đứa hiệu,

Vô buồng ngồi dưới mấy ông làng.

Mượn màu son phấn, ông kia nọ,

Cỗi lốt cân đai, chú điếm-đàng.

Tuy chẵng ra chi nhưng cũng sướng,

Đã từng trợn mắt lại phùng mang.


Huỳnh-Quì vừa mới hạ giọng thì Học Ý, sẵn có chai rượu mai-quế-lộ, từ từ rót từng chén chung đầy mà dâng lên ngang mày, chén bên tả cho mình, chén bên hữu cho ấm-sanh Phạm-phú-Đường. Hơi men bốc lên làm cho Học-Ý chuếch choáng, hai mắt lờ đờ, nước miếng chảy thành giòng. Chiếc thuyền không người lái đã tự ý rời khỏi chiếc bến cỏn con, trôi-nổi bềnh-bồng như chiếc lá đưa đẩy bởi những làn gió tây nhè nhẹ. Huỳnh-Quì cầm từng chén rượu mai-quế-lộ uống ngon lành, vừa uống vừa ngâm hai câu liễn đối:


Chích bóng gương loan, một thảm, một sầu, mười bực-tức,

Bẻ mai chèo quế, ba chìm, ba nổi, sáu lênh-đênh.


Đó là hai câu liễn đối tuyệt-tác, rất được truyền-tụng ở vùng lưỡng Quảng, Huỳnh- Quì đã sáng-tác khi thi hỏng trở về quê-quán, dừng bước tại bến đò Lăng-cô. Lúc bấy giờ có mười hai người đàn bà góa đương làm lễ cầu-siêu cho mười hai người chồng làm nghề chài lưới vừa mới bị chết đắm ngoài khơi. Thể theo lời thỉnh-cầu của gia-chủ, ông chỉ đòi hỏi có một chai rượu mai-quế-lộ, lấy cán bút viết thoăn-thoắt một hơi được tất cả là hai vế hai mươi hai chữ thật đẹp, rồi cùng người bạn là Học Ý cặp dù tiến về phía đèo Hải-vân. Gần tới hai dãy núi rất quen thuộc đối với những người bộ-hành trên con đường thiên-lý, tục gọi là Hòn Vay, Hòn Trả, ông dừng bước lại, thách bạn là Học Ý phải làm cho được một bài thơ tức-cảnh thật hay, rồi mới chịu mở nút chai ra đánh chén. Bây giờ hơi rượu đã ngà ngà, ông không nhớ hết cả tám vế cho rành mạch, bèn gọi Học-Ý đang nằm bắc chân chữ ngũ ở trong mạn thuyền và nói một cách dõng-dạc:

- Anh thử ngâm hai bài Hòn Vay Hòn Trả cho đại kha thưởng-thức luôn một thể, vì khi bài ấy ra đời, đại kha còn miệt-mài kinh-sử ở nước ngoài.

Đáp lời, Học-Ý nửa say, nửa tỉnh, ngâm những câu thơ bất-hủ sau đây với giọng lanh lảnh:


Hỏi thăm giàu có mấy năm nay,

Mà tiếng người đồn trả với vay.

Sạn đá vốn kia chồng-chất mãi,

Cỏ cây lời nọ nảy ra hoài.

Hẹn-hò ngày tháng chim năn-nỉ,

Tờ khế năm mùa lá đổi thay.

Gánh nợ tang-bồng âu trả đặng,

Dầu quên còn có đất trời hay.


Ngâm đến câu thứ tám, giọng của Học-Ý tự-nhiên hạ xuống rất thấp rồi tắt hẳn, chìm đắm như tiếng kêu của một con chim lạc-loài trong nước trời mây man-mác. Không chỉ một mình Học Ý, mà cả hai người bạn đồng-hành trên chiếc ghe mành đã theo cảnh vật ban chiều mà đi vào trong cõi hư-vô theo men rượu.

Ba ngày sau, trong vùng Ngũ-hành-sơn, dân-chúng sửng-sốt khi biết tin ấm-sanh Phạm-phú-Đường bị bắt tại làng Đông-bàn, cùng một lần với đốc-học Huỳnh- Dương và tri-huyện Nguyễn-Thiên  làng An-quán, cả ba người đã bị lính Nghĩa-hội áp-giải về Tân-tỉnh.



Trở về Mục Lục         Đọc chương kế tiếp