Thay lời tựa


Nói tới Đường-thi, người ta ít nghĩ đến những bài thơ cổ-phong, những bài “Thạch-hào lại”, những bài “Bình-xa hành” của Đỗ-Phủ, những bài “Trường-hận ca” và “Tỳ-bà hành” của Bạch cư Dị. Hai chữ “Đường-thi” thường hay khiêu-gợi trong tâm-trí mọi người những bài thơ tứ-tuyệt như “Khuê-oán” của Vương xương Linh, “Phong kiều dạ bạc” của Trương Kế và nhất là những bài thất-ngôn bát-cú có bố-cục chặt-chẽ, có bằng trắc nhất-định và có niêm-đối hẳn-hoi. Đường-thi là một thể thơ đặc-biệt thích hợp với ngôn-ngữ và tính-chất của dân-tộc Trung-quốc. Đường-thi lại còn là cái tinh-hoa của sông núi, cái khí hạo-nhiên của vũ-trụ, một thứ hoa thơm cỏ lạ đã nẩy-nở lần đầu tiên trong thời-kỳ trung-cổ ở trên bờ sông Hoàng-hà và sông Dương-tử.

Đường-thi phát-sinh vào năm 620 sau Tây-lịch Kỷ-nguyên trong thời-kỳ vua Đường Cao-Tổ, trải qua ba thế-kỷ và chấm-dứt vào năm 905 trong thời-kỳ vua Chiêu-tuyên-đế. Thơ cổ-phong ra đời từ lâu rồi, nhưng thơ Đường luật phải chờ Lý thế Dân lên làm vua, phải chờ sự góp sức của nhiều bậc thiên-tài mới có thể xuất-đầu lộ-diện. Một khi nhà Đường đã mạt-diệp, các thi-sĩ còn sót lại như Tào Nghiêu-tân, Lý thương Ẩn đã lần-lượt theo thời gian mà mai-một thì sứ-mạng của Đường-thi phải coi như kết-liễu. Danh-nhân đời sau, từ thời Tống, Nguyên cho tới Minh, Thanh, ai nấy cũng lo bồi-đắp, vun-quén cho cái di-sản của tổ-tiên mỗi ngày mỗi được phát-triển. Họ đã làm việc hết-sức tận-tụy, họ đã sáng-tác rất nhiều nhưng họ không thể nào tìm thấy một lần thứ hai cái âm-hưởng thanh-tao, cái phong-vị đặc-biệt và cái sức truyền-cảm linh-diệu của thời-kỳ Lý-Đỗ. Cây đàn ly-tao mà họ đã dùng để tạo nên thanh-âm vẫn là cây đàn xưa, mãnh đất mà họ đã gieo vẫn là mãnh đất cũ, sự vật vẫn không bao giờ di-chuyển trong phạm-vi nhỏ hẹp của nó, nhưng hoa quả về sau nầy đã tùy theo từng thời-kỳ mà thay hình đổi dạng. Người ta không thể nào phục-hồi vẻ tự-nhiên, bình-dị, cái âm-điệu nhẹ-nhàng, siêu-thoát như trong buổi Thịnh Đường. Mỗi thời-đại vẫn có một cá-tính, một sắc-thái riêng rẻ. Vì vậy các nhà phê-bình đã phải đặc biệt chú ý tới Đường, Tống là hai thời-kỳ hoàng-kim trong văn-học Trung-hoa và đã nói một câu bất-hủ: “Đường-thi Tống-tự Hán văn-chương”. Phải chăng các thi-sĩ sau Đỗ-Phủ,và Lý-Bạch không có thể tìm lại cái hoàn-cảnh hy-hữu, các cơ-hội ngàn năm một thuở, cái thời-kỳ nhiễu-nhương, loạn-lạc, sự quằn-quại, đau thương, để giúp cho mình trở thành những bậc vĩ-nhân. Phải chăng họ không có thể tạo ra một môi trường thuận-lợi cho sự sáng-tác; họ không có thể trông cậy vào sự khích-lệ vô-danh của một thế-hệ đang lên, của những làn sóng người hăng-hái, nhiệt-thành, cùng theo đuổi một chí-hướng, cùng hy-sinh cho một lý-tưởng, để gây-dựng nên những danh-nhân của thời-đại. Hơn một lần nữa, ta phải theo thi-hào Goethe mà nói một cách chân-thành “thiên-tài chỉ là hậu-quả của một cảnh-ngộ”.

Đó là nói riêng-rẻ về văn-nhân, thi-sĩ ở phiá bên kia ải Nam-quan. Một khi đem cái mầm-mống ở bên Trung-quốc mà gieo vào địa-hạt của mình, thi-nhân Việt-nam lẽ tất-nhiên phải gặp nhiều sự khó khăn hơn nữa. Từ Hàn-Thuyên đời nhà Trần tới Bà Huyện Thanh-quan đời nhà Nguyễn, cho tới thời-kỳ hiện-đại, thi-ca do người mình sáng tác có thể chất thành núi Thái-sơn hay lấp bể Địa-trung-hải nhưng những bông hoa của đất nước còn để hương-vị lâu dài chỉ tính trên đầu ngón tay. Người Việt nam có thể tự-hào với bài “Thăng-long thành hoài-cổ” của Bà Huyện Thanh-quan, bài “Khóc Thị Bằng” của Nguyễn gia Thiều, nhưng thành-thật mà nói thi-nhân của chúng ta vẫn chưa đạt tới mức dồi-dào, phóng-khoáng, chưa mang sắc thái tự-nhiên, dễ-dàng của một Đỗ-Phủ hay một Lý-Bạch. Đã có nhiều nhận xét về những khiếm-khuyết trong bài thơ của Nguyễn-gia-Thiều, về những công-phu, tìm-tòi và cố-gắng của Bà Huyện Thanh-quan trong hai câu thơ:

Đá vẫn trơ gan cùng tuế-nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang-thương.

Gần đây người ta hay nhắc-nhở đến bài “Hòn vay hòn trả” của Học-Ý, một thi-nhân ở về hạt Tam-kỳ, tỉnh Quảng-nam:

Hỏi thăm giàu có mấy năm nay,

Mà tiếng người đồn trả với vay.

Sạn đá, vốn kia chồng-chất mãi,

Cỏ cây, lời nọ nảy ra hoài.

Hẹn hò ngày tháng chim năn-nỉ,

Tờ khế năm mùa lá đổi thay.

Gánh nợ tang-bồng âu trả đặng,

Dầu quên còn có đất trời hay.


Ta phải công-nhận rằng Học-Ý có cái giọng trác-tuyệt thật nhưng Phan-Khôi đọc xong hai câu luận, hai vế hay nhất trong bài thơ, vẫn phải hạ bút mà phê-bình một cách chua-chát: “ công-thiệp nhưng chưa thoát khỏi khuôn-sáo của lối thơ cử-tử ”.

Phan tiên-sinh là một học-giả uyên-thâm, một thi-gia có nhãn-quang rộng-rãi, sâusắc:
Điều nhận-xét của ông giúp cho chúng ta thấy rằng làm Đường-thi là một việc rất dễ nhưng làm Đường-thi cho hay, sáng tác nên một bài thơ có ý-tứ và lời văn  dồi-dào ngang nhau, câu nào đọc lên cũng mang một sức linh-động, một sự truyền-cảm vô-biên, cũng tiến gần đến chổ hạo-nhiên, đến mức tuyệt-diệu như trong thời-kỳ Thịnh-Đường thì thật là một điều thiên nan vạn nan.

Bỉ-nhân không bao giờ có tham-vọng tiến tới chỗ siêu-việt trong nghệ-thuật làm thơ, cũng không cuồng-dại gì mà tưởng rằng mình sẽ có thể đạt tới đỉnh cao nhất trong dãy Hy-mã. Lúc nào nhàn-rỗi, bỉ-nhân võ-vẽ ghép năm ba câu, gieo năm ba vần, đem hợp lại thành một quyển sách nhỏ. Vả lại hiện nay thấy người đời ai nấy cũng theo đòi cái mới ở phương Tây và quên mất cái cũ ở phương Đông, bỉ-nhân tiếc cái gia-sản của tổ-tiên nên mạo-muội in tập thơ ấy ra cống-hiến cho quí độc-giả xem chơi trong lúc trà dư tửu hậu. Ấy là bỉ-nhân có một chút thiện-chí muốn góp phần để bồi-đắp nền văn-nghệ chung của nước nhà. Bỉ-nhân mong rằng các bậc cao-minh ở gần cũng như ở xa sẽ đón-nhận những dòng chữ sau đây với niềm hân-hoan,với sự khoan-dung không bờ-bến và chỉ vẽ cho những chỗ khiếm-khuyết để sửa đổi dần dần thì bỉ-nhân sẽ lấy làm cảm-tạ vô cùng.


Viết trên bờ sông Hương ngày 16 tháng Giêng năm Tân Sửu.

Phạm đình Bách

&&&&&&&&&&&&&&&&&&


“Vần thơ cổ-kính” in lần thứ nhất tại Nhà in Sao-Mai, 76 Nguyễn-Huệ, Huế. Bìa do Hoạ-sĩ Thái đình Uyển vẽ và khắc.


 Muc luc                                                        Home                                                      Xem trang sau