Canada đang mùa tuyết lạnh. Thoáng nghĩ về tập sách "Chiến sĩ Sông Thu" của ba tôi sắp được đưa lên mạng, chia xẻ cùng bạn đọc bốn phương những tài-liệu sử-học qúi-giá mà ba tôi đã bỏ công nhiều năm lặn lội trong các vùng quê Quảng- nam, tiếp-xúc với con cháu các nhà cách-mạng tiền-bối để sưu-tập, làm lòng tôi ấm lại. Qua bao biến-cố lịch-sử, dâu bể thăng trầm, gia-đình chúng tôi đã lưu-giử tâp sách hơn 45 năm kể từ ngày Ba tôi ra đi.

Cuộc tổng tấn-công Tết Mậu-thân của Vịêt-cộng vào cố-đô Huế đã cướp đi của chúng tôi người cha thương kính, của nền văn-học sử  nước nhà một  cây bút nhiều tâm-huyết, của dân-tộc một chiến-sĩ miệt-mài chiến-đấu cho đến hơi thở cuối cùng chống chủ thuyết Max Le và ý-đồ xâm-chiếm miền nam tự-do của cộng-sản Bắc Việt. Đó là ấn-tượng đậm nét về Ba tôi bềnh-bồng trên những kỹ-niệm tản-mác, nhạt-nhòa theo thời-gian hơn nửa đời người.

Là con gái nhưng tôi gần-gủi ba tôi nhiều hơn gần mẹ tôi vì bà quá bận với đàn em nhỏ. Ba tôi hết sức quan-tâm đến việc học-hành của anh chị em chúng tôi. Tôi là đứa con đầu tiên được ba tôi chuyển qua học chương-trình Pháp. Tôi còn nhớ ngày chuyển trường, tôi khóc không chịu vào lớp. Ông ngồi xuống bậc thềm, ôm tôi vào lòng dổ-dành “con học trường củ không tốn tiền, học trường mới này ba phải trả tiền học nhiều lắm, nhưng ba biết sẽ tốt cho tương lai của con sau này, con ráng vào học đi”. Nhìn mái tóc của ông cắt kiểu nhà binh đã lóm đóm nhiều sợi bạc, tôi quẹt nước mắt ôm cặp vào lớp.

Gia-đình đông con, lương nhà giáo thanh-bạch, ông đi dạy Việt văn và Pháp văn, sáng sớm đến chiều tối, rong ruổi trên chiếc xe đạp từ trường Nguyễn tri Phương, Thiên Hựu, Bình Linh đến trường Quốc-gia nghĩa tử, tối về còn chấm bài, kèm cho các con học. Chỉ đêm khuya thanh-vắng là thời-gian ông sống cho nghiệp-dĩ văn-chương của mình: chong đèn khuya, ông miệt-mài viết lách. Nhiều đêm trăng sáng, tôi giật mình thức-giấc khi nghe ba tôi ngâm-nga những bài thơ ông vừa cảm-hứng sáng-tác.

Thứ bảy, chúa-nhật có khi nhiều buổi tối trong tuần, ba tôi phải hội-họp, phối-trí công việc với anh em đồng-chí trong tỉnh-bộ Việt quốc, có khi tại nhà, có khi phải đi xa ra đến Triệu-phong, Quảng-điền, hoặc vào Hội-an, Đà-nẳng Sài-gòn.

Tôi vừa mở mắt chào đời thì ba tôi đã bị Việt minh bắt giam nhiều năm liền cho đến khi hiệp-định Genève được ký-kết. Ông đã làm nhiều bài thơ về giai-đoạn thống khổ nầy. Rất tiếc vì những sự hoảng-loạn của cuộc đổi đời, chỉ một số ít bài được lưu-giử bằng ký ức. Cuộc đời của ba tôi là những ngày làm việc miệt-mài, chiến-đấu không mệt-mỏi để bảo vệ một miền nam tự-do. Qua ba tôi, anh em tôi thấm hiểu được giá-trị của sự tự-do từ thời còn thơ-ấu, khi giật mình vì tiếng đạn bom mà hỏi “ba ơi, tiếng gì nổ lớn quá vậy”.

Tôi tin-tưởng hình ảnh Ba tôi, người cha tận-tụy, người thầy khả-kính hay người chiến-sĩ âm-thầm có thể phôi-pha trong nhạt-nhòa ký-ức, nhưng thơ văn của ông sẽ trường-tồn theo giòng lịch-sử. Qua năm tập thơ Chưa Đọng, Vần Thơ Tiên-Hội, Màu Thời-Gian, Vần Thơ Cổ-Kính, Chuyện Đất Thiêng, xuất-bản trước năm 1975, ông đã ghi lại bao biến-cố thăng-trầm của đất nước, tình-cảm dâu-bể của đời người.

Riêng tập “Chuyện Đất Thiêng”, lấy cảm-hứng từ lối viết chuyện thơ ngụ-ngôn của La Fontaine (văn-hào nổi tiếng Pháp thế-kỷ 17) chú-tâm cho sinh-hoạt giáo-dục thiếu-nhi. Ông thường bảo” mọi câu chuyện cổ-tích được kể bằng thơ giúp người đọc, người nghe, qua cung-đàn nhịp-phách, cảm-nhận đến tận cùng cái hay, cái đẹp của văn-chương truyền-khẩu Việt-nam”

Chúng tôi không nhớ rỏ ba tôi bắt đầu viết cuốn “Chiến sĩ sông Thu” vào lúc nào. Chỉ biết cảm-hứng từ một lần về Đèo Răm khoảng 1959-1960 thăm mộ phần ông bà nội chúng tôi, ông có dịp hàn-huyên trò-chuyện với các bô-lảo trong làng. Thời gian sau đó ba tôi thường về quê nội. Tôi còn ở cái tuổi ăn chưa no lo chưa tới nên không để tâm. Chỉ còn nhớ những lần ba tôi trể ngày hẹn về, má tôi đi ra đi vào, lo lắng không cùng. Quê nội tôi ngày ấy thuộc vùng xôi đậu, ban ngày quốc-gia, ban đêm cộng-sản, đường xe đò hay bị đắp mô, gài mìn, việc đi lại rất nguy-hiểm.

Tôi nghĩ hai năm cuối cuộc đời ba tôi, từ năm 1966 đến năm 1968, là thời-gian ba tôi tập-trung nhiều nhất cho việc soạn-thảo cuốn “Chiến-sĩ sông Thu”. Năm 1966, ông đưa tôi vào Đà nẳng, tìm chổ cho tôi trọ học Lycee Pascal. Khoảng hai tháng một lần, ông vào thăm cho tôi tiền ăn học và đi về quê nội sưu-tập tài liệu. Sáng ông thường đi rất sớm, có khi bằng xe đò, có khi mướn xe ôm. Đêm về ngủ lại trên chiếc ghế bố nhà binh kê cạnh bàn học của tôi, trong căn-phòng nhỏ ở nhà người cậu ruột. Ông thường viết lách hầu như thâu đêm. Có hôm tìm được tài-liệu hay, ông luôn miệng bảo tôi “lần nầy ba đi thật không uổn công”.

Tết Mậu-thân 1968, tôi về Huế ăn tết với gia-đình. Tang-thương máu-lửa phủ kín cố-đô, chúng tôi cũng vĩnh-viển mất đi người cha thương kính. Ba tôi chưa kịp hoàn-tất tập “Chiến-sĩ sông Thu”, tập sách ba tôi tâm-nguyện ghi lại những quyết -tâm của người dân Quảng-nam để bảo-vệ quê-hương chống lại âm-mưu xâm-lược của ngoại-bang.

Rồi tới biến-cố 1975, cuộc đời cho chúng tôi thật sự đối mặt và hiểu rỏ hơn những gì ba tôi thường gọi là “phi nhân hoang-tưởng”. Những ngày chồng tôi cùng với tất cả viên chức chính phủ tự do Việt-nam cộng-hòa đi tù tập-trung, tôi thấm-thía bài thơ ba tôi viết khi bị Việt-minh bắt giam năm 1950-1954:

Từ ngày tố khổ lên men,

Việt-minh tới bắt chồng em lên đồn....

.......

Ăn thì củ sắn củ khoai,

Ngọt bùi chỉ có dầu lai muối vừng.

Lưng đèo ngọn lốt mới ra,

Rau xanh mới bén người xa chưa về....

Chúng tôi ân-hận đã không lưu-giữ đủ những tập thơ của Ông. Chiến-sĩ Sông Thu là tác-phẩm văn xuôi cuối đời.  Tâm-nguyện xuất-bản tập sách cho Ba tôi cứ bị đẩy lùi vì những biến-cố lịch-sử, những đổi dời bận bịu của cuộc sống.  Cho đến hôm nay, anh em chúng tôi đã gần cái tuổi cổ-lai-hi, không nấn-ná hơn được nửa.  Tôi vui mừng biết Anh tôi đã kiên-trì ngồi đánh máy, cháu tôi thuộc thế hệ thứ hai ở hải ngoại có lòng phụ trình bày, sắp xếp để đưa lên mạng chia sẻ cùng bạn đọc bốn phương, để không uổng phí bao tâm-huyết của ba tôi.  Ông đã vượt lên những bận bịu mưu sinh, dành thời gian công sức phác-họa lại cuộc chiến kiên-trì chống Pháp của các chiến sĩ sông Thu Bồn, vùng đất của Ngũ Phụng Tề Phi không thiếu danh-nhân hào-kiệt.  Mong muốn duy nhất của ông là  nhắc nhở chúng ta đừng bao giờ quên quyết-tâm bảo-vệ quê-hương chống lại bất cứ âm-mưu xâm-lược nào của ngoại-bang.  

Sau bao năm mang thân lưu-lạc xứ người, ngồi gợi nhớ lại những kỹ-niệm đã có cùng người cha vô cùng thương kính, tôi sâu-sắc lời ông thường nói với Mẹ tôi "Cộng Sản mà chiếm được miền Nam thì nhà tan, cửa nát "! Mảnh đất tạm dung có cho chúng ta tự-do, cơm áo, nhưng lòng quan-hoài với quê cha đất tổ vẫn âm-ỉ trong lòng.  Hiện tại Sapa đã bị cắt lìa, Biển Đông dậy sóng trước âm-mưu bành-trướng thế-lực của Phương Bắc, mọi người con dân đất Việt, trong cũng như ngoài nước, có nên hun-đúc cái tinh-thần của người chiến sĩ Sông Thu?


Ottawa mười bảy tháng ba hai ngàn mười ba.



                                                                                               Về “Home”               

------------------------------------------------------------------------------------------------


-----------------------------------------------------


-----------------------------------------------------