Tiến-sĩ Trần văn Dư và bài thơ tuyệt-mệnh
                                                    Trúc-Đình biên-soạn 

 Tiểu-sử Tiến-sĩ Trần Văn Dư

Trần Văn Dư  sinh ngày 15 tháng 11 năm Kỷ Hợi (31 tháng 12 năm 1839), tại làng An Mỹ Tây, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình (nay là xã Tam An, huyệnPhú Ninh), tỉnh Quảng Nam.

 Xuất thân trong một gia đình nhà Nho, năm 19 tuổi (1858), Trần Văn Dư đỗ tú tài. Năm 1868, ông đỗ cử nhân ân khoa.

Làm quan triều Nguyễn

Sau khi đỗ Cử-nhân, Trần Văn Dư được cử làm Sơ khảo trường thi Bình ĐịnhTháng 7 (âm lịch) năm 1873, triều-đình bổ ông chức Hàn-lâm-viện điển-tịch, lãnh Biên tu, sung vào Hành-tẩu cơ-mật-viện.

Năm Ất Hợi (1875) ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến-sĩ, cùng khoa với Hoàng-giáp Phạm Như Xương, người cùng tỉnh.

Đỗ đại-khoa, tháng 11 (âm lịch) năm đó, ông được bổ chức Hàn-lâm-viện tu-soạn. Tháng 5 (tháng nhuần tính theo âm lịch) năm 1876, ông được cử làm Tri-phủ Ninh GiangTháng 2 (âm-lịch) năm 1879ông được điều-động làm Tri-phủ Quảng Oai (nay thuộc huyện Ba VìHà-nội). Ở đây, ông bí-mật liên-lạc với các sĩ-phu yêu nước, hợp-tác với lực-lượng của Hoàng Kế Viêm cùng mưu việc đánh Pháp.

Tháng 10 (âm lịch) năm 1880, ông được triệu về Huế làm Hàn-lâm-viện Thị-độc, sung chức Giảng tập tại Dục Đức đường. Đến tháng Chạp năm đó, ông lại được sung làm Tán-Thiện Chánh Mông đường (tức lo việc dạy học cho Dục Đức và Đồng Khánh khi hai ông này chưa lên ngôi).

Tháng 4 (âm lịch) năm 1883, ông được c làm Án sát sứ tỉnh Hà-Tĩnh. Đến Tháng 11 (âm lịch) năm đó, ông được đổi làm Hồng-lô Tự khanh Biện-lý bộ Lại, sung chức Tham-biện Thương-bạc sự vụ.

Cuối năm 1884, ông được cử giữ chức Sơn-phòng sứ Quảng-Nam.

Tháng 5 năm Ất Dậu (tháng 7 năm 1885), cuộc phản-công của phe chủ chiến ở Kinh thành Huế thất-bại, Phụ-chính Tôn Thất Thuyết phải phò vua Hàm Nghi chạy ra Quảng-trị, xuống dụ Cần-vương (13 tháng 7 năm 1885).

Hưởng-ứng dụ Cần Vương

Sau khi vua Hàm Nghi xuất-bôn, triều Nguyễn nhận thấy việc cử Trần Văn Dư làm Sơn-phòng-sứ Quảng-nam là điều bất lợi cho “xu thế hợp-tác” của họ , nên cử Phó-bảng Nguyễn Đình Tựu (nguyên Tế-tửu Quốc tử giám ở Huế) ra giữ chức ấy, đồng thời đưa Trần Văn Dư lên làm Bố-chánh tỉnh này, nhưng ông từ chối.

Hưởng-ứng dụ Cần-Vương, Trần Văn Dư cùng với Nguyễn Duy Hiệu,Phan Bá PhiếnTiểu La Nguyễn Thành...thành-lập Nghĩa-hội Quảng-nam do ông làm Thủ hội.

Tháng 7 năm Ất Dậu (tháng 8 năm 1885), ông thay mặt Nghĩa-hội ra Bản Cáo-thị kêu gọi toàn dân trong tỉnh đứng lên chống Pháp.

Ngày 4 tháng 9 năm đó, ông cùng Nguyễn Duy Hiệu, Tiểu La Nguyễn Thành, Phan Bá Phiến, Nguyễn Hanh...chia quân ra làm nhiều cánh rồi cùng tiến đánh thành tỉnh La Qua (còn gọi là La Thành, tức thành tỉnh Quảng Nam), buộc Bố-chánh Bùi Tiến Tiên, Tuần-phủ Nguyễn Ngoạn, Án-sát Hà Thúc Quán phải dẫn quân rút chạy.

Làm chủ thành tỉnh Quảng Nam được 20 ngày, đến ngày 25 tháng 9 năm 1885, thì quân thủy bộ của Pháp cùng quân Nam triều dưới quyền chỉ huy của tướng Shants, Tiễu-phú-sứ Nguyễn Thân, Bố-chánh Lê Khiết  mở cuộc tái chiếm. Trước lực-lượng đông-đảo và vũ-khí tối-tân của đối-phương, Trần Văn Dư cùng Nguyễn Duy Hiệu quyết-định rút đại bộ-phận về căn-cứ Sơn-phòng Dương Yên thuộc miền cao phủ Tam Kỳ.

Liên quân tiếp-tục truy-kích, đến tháng 10 năm 1885, thì các căn cứ của Nghĩa hội ở Đại LộcQuế SơnTam KỳDương YênAn LâmĐại Đồng...lần lượt bị vây đánh và thất-thủ.

Trước tình-thế nguy-ngập đó, bộ chỉ-huy Nghĩa-hội bàn nhau chọn kế "giải binh quy điền" để bảo-toàn lực-lượng. Tháng 12 năm 1885, Trần Văn Dư giao quyền Thủ hội cho Nguyễn Duy Hiệu để ra Huế gặp vua Đồng Khánh (từng là học trò của ông), nhằm tìm ra một giải-pháp.

Dọc đường, ông bị quyền Tuần-phủ sứ Quảng-nam Châu Đình Kế bắt giữ và báo với quân Pháp. Bất-khuất, ông mắng chửi Tuần phủ Kế. Căm tức, viên quan này đã mượn tay quân Pháp để giết chết ông tại góc thành La Qua (tức thành tỉnh Quảng Nam) ngày 13 tháng 12 năm 1885. Khi ấy, ông mới 46 tuổi.

Hiện nay, phần mộ Trần Văn Dư đã được cải-táng về thôn An-thọ, xã Tam An, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam và đã được công-nhận là Di-tích Văn-hóa Lịch-sử cấp tỉnh.

Tên ông đã được dùng để đặt con một con đường ở quận Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh), một con đường ở quận Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng), một con đường trong thành phố Tam-Kỳ (Quảng-nam), và tên một trường phổ-thông trung học ở Phú Ninh (Quảng Nam).

Về bài thơ tuyệt-mệnh: 

1/ Biệt hiệu của cụ Dư là Hoán Nhược

2/ Bài thơ theo luật trắc vần bằng và đầy đủ 8 câu, có bài dịch thơ.

3/ Chữ “hoành tử” thay vì “hoàn tử”

4/ Tôi tìm không được nguyên văn chữ Hán nên tự viết, xin quý học giả tinh-thông Hán Học phủ-chính cho:

Xin ghi lại bài thơ và trường-hợp về cụ Dư trước khi làm bài thơ nầy:

Tương-truyền hồi làm tri-phủ Ninh-Giang, có một thầy bói người Trung Hoa cho rằng sau nầy ông sẽ chết vì gươm đao, nhưng ông không tin. Trước khi bị thảm-sát tại tỉnh nhà, nhớ lại chuyện cũ, ông khẩu chiếm bài thơ trước khi đao-phủ ra tay:

Hán Việt:

Thiên địa sinh ngô mạng diệc kỳ

Đông Dương thuật sĩ bất ngô khi

Hà Đông tiến sĩ đa hoành tử

Lưỡng Quảng trung thần bất phục quy

Tiền bối bất tri vong quốc hận

Hậu lai học giả mạc tham kỳ (cầu)

Đãn cầu hành nghĩa vô quai xứ

Ma luyện như hà thính hóa nhi.


Trúc Đình thử viết Hán văn:

 地 生 吾 命 亦 奇

東 洋 術 士 不 吾 欺

河 東 進 仕 多 橫 死  

兩 廣 忠 臣 不 復 歸

前 輩 不 知 亡 國 恨

後 來 學 者 莫 探 期

但 求 行 義 無 乖 處

摩 煉 如 何 聽 化 兒


Dịch thơ: (Linh Công phỏng dịch)

Trời đất sinh ta mạng cũng kỳ

Lời nhà tuớng-số quá huyền-vi

Hà-Đông Tiến-sĩ đầu rơi thảm

Nhị Quảng trung-thần há phục-qui

Tiền-bối biết chăng hờn mất nuớc

Sau nầy học giả chớ theo y

Tấc lòng trung-nghĩa  không sai vạy

Mài giũa  thế nào  mặc hóa nhi.


                                                                                Đà Nẵng, 01-11-2013 

                                                                          Trúc Đình sưu tầm và biên soạn.

 

                                        Về “Home”                                       Về "Giao-lưu"