Thay lời tựa
Lưu trọng Lư


Văn thơ đối với tôi không phải chỉ là một sự thoát-ly với những điều thực-tế qu
á tầm thường; tôi không tầng được vỗ cánh mà theo làn mây trắng trên lầu Hoàng-Hạc. Văn thơ đã trói tôi với cuộc đời, bắt tôi len lỏi giữa đám chợ trần; tôi phải đi những bước gâp-ghềnh là cái định-phận chung của con người trần-thế. Vì đời là nơi tôi có những cuộc gặp-gỡ mà một ngày kia, khi qua con đường khác, tôi còn nhớ mãi cái  hương-vị nồng-nàn. Một ngày kia số-mệnh sẽ đưa tôi tới trước ba mươi sáu nẻo đường, nhưng hôm nay tôi đã tự nguyện với tôi như một lời vàng đá là ngày đó, tôi sẽ chọn lại con đường mòn-mỏi của thế-nhân. Dầu phải luân-hồi ba mươi sáu kiếp, tôi cũng chỉ chọn một con đường, để gặp lại những cái mà tôi tưởng không thể thấy hai lần. Tôi sẽ bắt lại những cái bóng đã thoát, tôi sẽ nắm lại những bàn tay thân-ái mà cuộc đời đã đưa lại cho tôi. Phải  nói đó là cái công-trình của văn thơ ; vì chính cái duyên văn-tự đã đưa lại cho tôi một vài tâm-hồn quí-báu, là những kho-tàng phong-phú về tình về cảm. Nhờ văn thơ tôi đã biết được những con người, những tâm-hồn đã nở trên con đường của tôi, và đến một kiếp nào, tôi cũng không quên cái mùi hương say ngát phưởng-phức.

Tôi đã ngạc-nhiên và sửng-sốt về những tâm-hồn tôi đã gặp.

Thuở  bấy giờ Phạm đình Bách còn là một cái gì còn nguyên-vẹn, còn giữ kín chặt lấy mình, còn giữ chặt lấy tất-cả những cái mầu-nhiệm đã cấu-tạo nên mình, Phạm đình Bách vẫn là một  cái thế-giới đóng kín. Nhưng khi những tâm-hồn thầm-lặng ấy đương quằn-quặi, đương xao-xuyến, là để tự tạo lấy cái kết quả của mình. Rồi một hôm Phạm đình Bách tự mở và tự nở như một trái đã chín, như cái chồi đã ươm nụ, như cái hoa đã lên hương. 

Lần đầu tiên tôi gặp Phạm đình Bách là tôi tưởng như vào được một cái thế-gìới rất huyền-bí, rất khác lạ. Thuở ấy tôi còn chủ-trương việc biên-tập tờ Hà-nội báo và báo nầy đương mở một cuộc thi thơ; chính khi tôi đương phải ngâm lên cả một núi thơ cũng vô-vị nhạt-nhẻo như nhau, thì tôi nhận được hai bài "Không-gian ca" và "Từ đấy" của Phạm đình Bách. Hai bài thơ ấy đã đưa tôi vào một cái thế-giới khác, đã nói với tôi một chút gì. Hai bài thơ ấy được giải nhất và được đăng lên báo ở một chổ trân-trọng và xứng-đáng. Nhưng nếu cuộc gặp gỡ chỉ có thế, thì Phạm đình Bách đối với tôi đã là một cái hận.

Nhưng sau thơ tôi đã gặp người. Tôi đã gặp lại con người ấy thoáng hiện trong thơ. Ở đời đáng căm giận là những kẻ đã làm ra cái trò rẽ thúy chia duyên và bắt người phải cách biệt với văn thơ. Không! thơ vẫn là người, và chính đó là cái điều-kiện thứ nhất của văn thơ. Vì vậy thơ phải là sự chân-thành. Mà thơ Phạm đình Bách chính là sự chân-thành; và đến bao giờ tôi cũng thấy ở trong Phạm đình Bách một cái gì rất bi thiết, rất lâm-ly, một cái gì như một tấn-kịch bi ai, não-nùng đã lay chuyển cả một tâm-hồn, một thân-thể.

Hoặc giả có người trách thơ Phạm đình Bách là buồn. Tôi nghĩ rằng "buồn" còn là một sự may-mắn, vì tôi biết ở trong Phạm đình Bách còn có những cái gì còn bi-thiết hơn.

Trên đường đời đã bao lần tôi gặp lại Phạm đình Bách và đã nhiều lần được nghe thơ; tôi vẫn nhận thấy ở trong thơ và người, một cái giọng run run, không thể thốt ra bằng những cái tiếng thẳng thắng minh bạch. Đằng sau Phạm đình Bách, tôi chỉ thấy hé mở ra một cái thế-giới mà tôi không hiểu; nhưng có lẻ cũng là một hay nhiều cái thế-giới quen thuộc của chúng ta.

Buồn thì cố nhiên cái thế-giới của Phạm đình Bách là buồn, là một trời đất mênh mông thảm-đạm; nhưng ở trong ấy còn có một cái gì tôi vẫn không hiểu mà tôi cũng chỉ cảm thấy một cách mơ hồ:

" Ở chốn sao Hôm em cách-biệt,
"Trần-gian buồn-bả viết đôi câu"

Lại với :

"Anh nhớ em ôi! trời nước Tấn
"Với mây bên Sở, núi bên Tần"
                                                Hận Không Gian

Tôi không biết trong cái "làn mây bên Sở" và trong dãy "núi bên Tần" Phạm đình Bách đã gởi những gì. Tôi không biết trên "sao Hôm", le lói một phương trời, hai linh-hồn thân yêu đã phải cách- biệt nhau như thế nào. Nhưng có một điều tôi dám chắc chắn là sự cách-biệt ấy  là một sự cách-biệt rất bi-thiết lâm-ly. 

Cho đi rằng cái tâm-hồn Phạm đình Bách đã sống và đã từng nở trong những buổi sáng Việt, hay những buổi hoàng-hôn Chàm; nhưng sớm nay, một làn hương bát-ngát đã tỏa khắp không-gian; và sự bí-mật trong đêm qua vẫn còn trọn-vẹn.

Tôi tiếc rằng tôi không phải là một cái tế-bào trong sự "thầm lặng" của Phạm đình Bách để hôm nay có thể nói với độc-giả cái bí-mật đã tạo nên nhà thi-sĩ chung của chúng ta.

Có một điều chúng ta có thể biết là sau tám năm sống trong vòng khói-lửa, cái tâm-hồn ấy cũng theo hoàn-cảnh mà thay đổi một phần. Nhà thi-sĩ của chúng ta đã trở về với thực-tế.

Cái thực-tế ấy là một cái thực-tế đau-đớn vì trong cái "màn sắt" của một chế-độ độc-tài, nhà thi-sĩ của chúng ta không thể diễn-tả một cách thẳng-thắng và chân-thành những cảm-xúc của mình. Lâu ngày cái tính dè-dặt ấy đã biến thành một cái thói quen.

Đứng trước cái  cảnh loạn-lạc, nhà thi-sĩ của chúng ta rất đau-đớn vì :

"Giặc đến bốn phương, sầu tử-biệt
"Người tan mấy nẻo, hận sinh-lai" 
                                                    Thu hoài

Nhưng cái hiểm-họa của chiến-tranh chỉ thoáng qua trong tâm-trí, rồi lại  nhường chổ cho những cảm-xúc dịu-dàng hơn:

"Sông Tiên mấy độ, thương mình cúc,
"Núi Nhón đòi phen, tủi vóc mai" 

và :

"Từ thuở chiến-khu thưa bóng nhạn
Canh trường mài lệ chép thư trai"
                                            Thu hoài

Ở trong lao đã tám tháng, lại bị xiềng-xích, mà nhà thi-sĩ của chúng ta vẫn nói một cách thản-nhiên:

"Tám tháng rày ta nằm trong ngục-thất,
"Vắng mặt trời lại vắng cả cung trăng"

Rồi thi-sĩ nghĩ ngay đến gia-đình, đến một cái thời xa-xưa êm-đềm và ý-nhị:

"Ta nhớ những khi ra chơi bãi bể
" Trăng khuya lên, ngạt-ngào không xiết kể"
                                                Lao-trung vọng nguyệt

Mãi cho đến khi đã thoát ra ngoài lưới sắt rồi mà vẫn còn e-dè lo sợ:

"Gặp anh tôi chỉ nói một lời,
"Ở bên kia sông, tôi không thấy một người"
                                                    Tái-ngộ

Cái bí-mật trong đêm qua cũng vẫn còn nguyên-vẹn, và nhà thi-sĩ chỉ hé cửa để cho chúng ta thấy một phần nhỏ trong cái thực-tế đau-thương và thảm-đạm ấy.

Nhưng dầu sao đi nữa, với chừng ấy, với sự được có Phạm đình Bách luôn trên đầu giường, trong những giờ vô liêu, tôi cảm thấy lòng tôi cũng được rộn-ràng thổn-thức. Ở đời được bình-tỉnh thì rất hay; nhưng đôi khi ta cũng nên có đôi phút rung-động.

Hỡi độc-giả vô-liêu! hãy để cho Phạm đình Bách nở trên đầu giường của các người. Tuy có nồng-nàn thật, nhưng cái hương-vị của Phạm đình Bách vẫn là cái hương thơm xa lạ, hiền lành vô tội của một thi-nhân. Các người đừng ngại, vì đây không phải là mùi hương giết người, hay cái nồng đượm say người của phấn son.


                                            Mùa thu năm Kỷ-Tỵ

                                            Lưu- Trọng-Lư



  Home                       Mục lục "chưa đọng"           Xem trang sau